Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi là gì?

Trong nội dung bài viết này, Luật Hoàng Anh sẽ phân tích rõ quy định của pháp luật hình sự về tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi.

1. Căn cứ pháp lý

Điều 144 Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 ngày 27/11/2015 ngày 27/11/2015 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 12/2017/QH14 ngày 26/06/2017 (sau đây gọi tắt là Bộ luật hình sự) quy định Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi như sau:

Điều 144. Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi

1. Người nào dùng mọi thủ đoạn khiến người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi đang ở trong tình trạng lệ thuộc mình hoặc trong tình trạng quẫn bách phải miễn cưỡng giao cấu hoặc miễn cưỡng thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Có tính chất loạn luân;

b) Làm nạn nhân có thai;

c) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

d) Phạm tội 02 lần trở lên;

đ) Đối với 02 người trở lên;

e) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Nhiều người cưỡng dâm một người;

b) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

c) Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội;

d) Làm nạn nhân chết hoặc tự sát.

4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”

2. Dấu hiệu pháp lý của tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi

2.1. Khách thể của tội phạm

Cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi là dùng mọi thủ đoạn khiến người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi đang ở trong tình trạng lệ thuộc mình hoặc trong tình trạng quẫn bách phải miễn cưỡng giao cấu hoặc miễn cưỡng thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác.

Tội phạm này xâm phạm quyền bất khả xâm phạm về tình dục, danh dự và nhân phẩm. Trong nhiều trường hợp tội phạm còn xâm hại đến sức khỏe người từ đủ 1 đến dưới 16 tuổi và ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội.

Như vậy, khách thể của tội phạm là quyền bất khả xâm phạm về thân thể, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi đang lệ thuộc vào người phạm tội hoặc đang trong tình thế quẫn bách và trật tự an toàn xã hội.

2.2. Mặt khách quan của tội phạm

Hành vi thuộc mặt khách quan của tội phạm là dùng mọi thủ đoạn khiến người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi đang lệ thuộc mình hoặc đang ở trong tình trạng quẫn bách phải miễn cưỡng giao cấu hoặc miễn cưỡng thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác. Các thủ đoạn mà người phạm tội dùng gồm rất nhiều thủ đoạn khác nhau như : lừa phỉnh, mua chuộc, dụ dỗ, đe doạ hoặc bằng tình cảm, bằng tiền bạc, có khi chỉ là một lời hứa... tức là người phạm tội  không từ một thủ đoạn nào miễn là thực hiện được ý đồ giao cấu với người bị hại hoặc lợi dụng người bị hại đang ở trong tình trạng quẫn bách để họ phải miễn cưỡng giao cấu với mình.

Người bị hại phải là người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi lệ thuộc vào người phạm tội, nếu không phải là người bị lệ thuộc thì cũng phải là người đang ở trong tình trạng quẫn bách. Người bị lệ thuộc vào người phạm tội bao gồm sự lệ thuộc về tinh thần cũng như lệ thuộc về mặt vật chất bắt nguồn từ nhiều quan hệ khác nhau như : cha với con, thầy với trò, thầy thuốc với bệnh nhân,...

Người đang ở trong tình trạng quẫn bách là trường hợp người bị hại đang lâm vào hoàn

cảnh khó khăn, bức bách nhưng không tự mình khắc phục được mà cần có sự hỗ trợ,

giúp đỡ của người khác (ví dụ: không có tiền chữa bệnh hiểm nghèo; không có

tiền để chuộc con mình đang bị bắt cóc...).

Tội phạm này đặc biệt hơn so với tội cưỡng dâm thông thường ở chỗ độ tuổi của nạn nhân từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi. Điều 417 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 6 Thông tư liên tịch 06/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH quy định cách xác định tuổi của nạn nhân dưới 16 tuổi như sau:

Việc xác định tuổi của người bị hại dưới 16 tuổi căn cứ vào một trong các giấy tờ, tài liệu sau:

a) Giấy chứng sinh;

b) Giấy khai sinh;

c) Chứng minh nhân dân;

d) Thẻ căn cước công dân;

đ) Sổ hộ khẩu;

e) Hộ chiếu.

Trường hợp đã áp dụng các biện pháp hợp pháp mà vẫn không xác định được chính xác thì ngày, tháng, năm sinh của họ được xác định:

a) Trường hợp xác định được tháng nhưng không xác định được ngày thì lấy ngày cuối cùng của tháng đó làm ngày sinh.

b) Trường hợp xác định được quý nhưng không xác định được ngày, tháng thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong quý đó làm ngày, tháng sinh.

c) Trường hợp xác định được nửa của năm nhưng không xác định được ngày, tháng thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong nửa năm đó làm ngày, tháng sinh.

d) Trường hợp xác định được năm nhưng không xác định được ngày, tháng thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong năm đó làm ngày, tháng sinh.

Trường hợp không xác định được năm sinh thì phải tiến hành giám định để xác định tuổi.

Theo Khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định tại các Điều 141, 142, 143, 144, 145, 146, 147 của Bộ luật Hình sự và việc xét xử vụ án xâm hại tình dục người dưới 18 tuổi quy định:

Giao cấu là hành vi xâm nhập của bộ phận sinh dục nam vào bộ phận sinh dục nữ, với bất kỳ mức độ xâm nhập nào.

Thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác là hành vi của những người cùng giới tính hay khác giới tính sử dụng bộ phận sinh dục nam, bộ phận khác trên cơ thể (ví dụ: ngón tay, ngón chân, lưỡi...), dụng cụ tình dục xâm nhập vào bộ phận sinh dục nữ, miệng, hậu môn của người khác với bất kỳ mức độ xâm nhập nào, bao gồm một trong các hành vi sau đây:

a) Đưa bộ phận sinh dục nam xâm nhập vào miệng, hậu môn của người khác;

b) Dùng bộ phận khác trên cơ thể (ví dụ: ngón tay, ngón chân, lưỡi...), dụng cụ tình dục xâm nhập vào bộ phận sinh dục nữ, hậu môn của người khác.

Miễncưỡng giao cấu hoặc miễn cưỡng thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác là trường hợp nạn nhân mặc dù trong lòng không muốn cho giao cấu hoặc cho thực hiện các hành vi quan hệ tình dục khác nhưng bên ngoài buộc phải đồng ý. Nạn nhân có thời gian suy nghĩ cân nhắc có đồng ý hay không.

Tội cưỡng dâm được hoàn thành khi có hành vi giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác. Nếu chưa có hành vi giao cấu hoặc hành vi quan hệ tình dục khác thì không cấu thành tội cưỡng dâm.

2.3. Chủ thể của tội phạm

Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi được thực hiện bởi bất kỳ người nào

từ đủ 14 tuổi trở lên có năng lực trách nhiệm hình sự.

Thứ nhất, tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi được thực hiện bởi bất kỳ người nào. Đó có thể là công dân Việt Nam, người nước ngoài hay người không quốc tịch. Chủ thể thực hiện tội phạm có thể là cá nhân, thực hiện hành vi cưỡng dâm một mình. Nhưng cũng có thể là vụ án đồng phạm, nhiều người cùng thực hiện hành vi cưỡng dâm đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi đang lệ thuộc vào họ hoặc có một người thực hiện việc cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi đang lệ thuộc vào mình nhưng có người chỉ huy, hướng dẫn, có người khác xúi giục, giúp sức để người đó thực hiện hành vi cưỡng dâm thành công.

Thứ hai, căn cứ theo Điều 9 Bộ luật Hình sự, tội phạm thuộc Khoản 1 đến Khoản 3 Điều 144 thuộc loại tội phạm rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng. Theo Điều 12 Bộ luật Hình sự, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng quy định tại Điều 144. Như vậy, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm quy định tại Khoản 1 đến Khoản 3 Điều 144 Bộ luật Hình sự.

Thứ ba, người có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ. Tức là người đó phải có cả năng lực nhận thức và năng lực điều khiển hành vi. Nếu người đó phạm tội trong trường hợp không có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc bị hạn chế năng lực hình sự thì có thể được loại trừ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 21 Bộ luật hình sự.

2.4. Mặt chủ quan của tội phạm

Tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội nhận thức được hành vi mình làm là gì, nhận thức rõ nạn nhân không muốn phải quan hệ tình dục với mình, nhìn thấy trước hậu quả xâm hại thân thể, danh dự, nhân phẩm của nạn nhân nhưng vẫn mong muốn hậu quả đó xảy ra. Động cơ để người phạm tội thực hiện hành vi này với là để thỏa mãn nhu cầu sinh lý của mình.

3. Các tình tiết định khung hình phạt cụ thể

a) Có tính chất loạn luân.

Theo Khoản 1 Điều 4 Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định tại các Điều 141, 142, 143, 144, 145, 146, 147 của Bộ luật Hình sự và việc xét xử vụ án xâm hại tình dực người dưới 18 tuổi quy định:

Có tính chất loạn luân là một trong các trường hợp sau đây:

- Phạm tội đối với người cùng dòng máu về trực hệ, với anh chị em cùng cha mẹ, anh chị em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha;

- Phạm tội đối với cô ruột, dì ruột, chú ruột, bác ruột, cậu ruột, cháu ruột;

- Phạm tội đối với con nuôi, bố nuôi, mẹ nuôi;

- Phạm tội đối với con riêng của vợ, con riêng của chồng, bố dượng, mẹ kế;

- Phạm tội đối với con dâu, bố chồng, mẹ vợ, con rể.

b) Làm nạn nhân có thai.

Cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi mà làm nạn nhân có thai là do hành vi cưỡng dâm của người phạm tội mà nạn nhân có thai, tức là cái thai của nạn nhân là kết quả của việc giao cấu giữa người phạm tội với nạn nhân. Nếu nạn nhân tuy có bị cưỡng dâm nhưng việc nạn nhân có thai lại là kết quả của việc giao cấu giữa nạn nhân với người khác thì người phạm tội hiếp dâm không phải chịu tình tiết “làm nạn nhân có thai”.

c) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ trở lên.

Căn cứ để đánh giá mức độ thương tích, mức độ rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân là kết quả giám định pháp y theo quy định tại Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần.

Đây là trường hợp người phạm tội ngoại trừ thực hiện hành vi xâm hại tình dục nạn nhân mà còn xâm hại đến sức khỏe của nạn nhân, gây thương tích ở mức đáng kể cho nạn nhân.

d) Phạm tội 02 lần trở lên.

Theo Khoản 2 Điều 4 Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định tại các Điều 141, 142, 143, 144, 145, 146, 147 của Bộ luật Hình sự và việc xét xử vụ án xâm hại tình dực người dưới 18 tuổi quy định:

Phạm tội 02 lần trở lên là trường hợp người phạm tội đã thực hiện hành vi phạm tội từ 02 lần trở lên nhưng chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.

đ) Đối với 02 người trở lên.

Đây là trường hợp người phạm tội cùng thực hiện cưỡng dâm đối với 02 người trở lên.

e) Tái phạm nguy hiểm.

Tái phạm nguy hiểm là trường hợp đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý hoặc đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý. Tái phạm là trường hợp đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý hoặc thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do vô ý.

Như vậy cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi trong trường hợp tái phạm nguy hiểm là trường trước đây họ đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà đã cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi hoặc trước đây họ đã bị kết án về tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, chưa được xóa án tích mà nay lại tiếp tục cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi khác.

f) Nhiều người cưỡng dâm một người.

Theo Khoản 4 Điều 4 Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định tại các Điều 141, 142, 143, 144, 145, 146, 147 của Bộ luật Hình sự và việc xét xử vụ án xâm hại tình dực người dưới 18 tuổi quy định:

Nhiều người cưỡng dâm một người là trường hợp 02 người trở lên cưỡng dâm 01 người. Cũng được coi là “nhiều người cưỡng dâm một người” nếu có từ 02 người trở lên cùng bàn bạc, thống nhất sẽ thay nhau cưỡng dâm 01 người, nhưng vì lý do ngoài ý muốn mới có 01 người thực hiện được hành vi cưỡng dâm. Không coi là “nhiều người cưỡng dâm một người”, nếu có từ 02 người trở lên câu kết với nhau tổ chức, giúp sức cho 01 người cưỡng dâm (trường hợp này là đồng phạm).

g) Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội.

Người phạm tội biết mình nhiễm HIV mà vẫn cưỡng dâm, tức là cố ý lây truyền HIV cho người khác bằng hành vi cưỡng dâm, làm cho tính chất và mức độ của hành vi cưỡng dâm nguy hiểm hơn nhiều so với trường hợp cưỡng dâm bình thường.

h) Làm nạn nhân chết hoặc tự sát.

Trường hợp làm nạn nhân chết là trường hợp nạn nhân do bị cưỡng dâm mà chết, nếu nạn nhân bị chết không phải là do bị cưỡng dâm mà do nguyên nhân khác thì không thuộc trường hợp phạm tội.

Nạn nhân tự sát là trường hợp bởi vì bị cưỡng dâm, nạn nhân cảm thấy xấu hổ, tủi nhục, không còn mong muốn sống tiếp nên đã tự sát.

4. Hình phạt đối với người phạm tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi

Điều 144 Bộ luật Hình sự quy định 04 khung hình phạt đối với người phạm tội như sau:

- Khung hình phạt phạt tù từ 05 năm đến 10 năm trong trường hợp người nào dùng mọi thủ đoạn khiến người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi đang ở trong tình trạng lệ thuộc mình hoặc trong tình trạng quẫn bách phải miễn cưỡng giao cấu hoặc miễn cưỡng thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác

- Khung hình phạt phạt tù từ 07 năm đến 15 năm áp dụng khi người phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây: Có tính chất loạn luân; làm nạn nhân có thai; gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%; phạm tội 02 lần trở lên; đối với 02 người trở lên; tái phạm nguy hiểm.

- Khung hình phạt phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân áp dụng khi người phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây: Nhiều người cưỡng dâm một người; gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên; biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội; làm nạn nhân chết hoặc tự sát.

- Khung hình phạt bổ sung, người phạm tội có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

5. Vụ án thực tế xét xử về tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi

Bán án số 57/2020/HSPT ngày 19/08/2020 “V/v xét xử bị cáo Huỳnh Phương B phạm tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” của Tòa án Nhân dân tỉnh Bình Thuận.[1]

Huỳnh Phương B sống chung như vợ chồng với bà Nguyễn Thị H (không đăng ký kết hôn) và ở cùng nhà với hai con riêng của H là Trần Thị Quỳnh N (sinh: 16.10.2002) và Trần Văn D (sinh năm: 2008) tại thôn Vĩnh Hưng, xã T, huyện TP, tỉnh Bình Thuận. Ngày 17.8.2016, Nguyễn Thị H bị Công an huyện TP bắt tạm giam về hành vi “Trộm cắp tài sản” nên Trần Thị Quỳnh N và Trần Văn D tiếp tục sống chung nhà với Huỳnh Phương B. B là người trực tiếp nuôi dưỡng và chịu các chi phí sinh hoạt hàng ngày cho N và D. Vào tháng 08/2017, khoảng 10 giờ B điều khiển xe mô tô chở N từ xã T đi chợ ở thị trấn LH để mua quần áo cho N. Trên đường đi về lại xã T, B nảy sinh ý định quan hệ tình dục với N, nên nói với N: “Ba mua đồ cho con hết tiền luôn rồi đó, con thưởng cho ba cái gì đi?”, N trả lời “Ba muốn sao cũng được”. B liền chở N vào nhà nghỉ VN1 thuộc khu phố 4, thị trấn LH thuê phòng, khi vào phòng nghỉ N bị lệ thuộc về mặt vật chất, nếu không đồng ý cho B quan hệ tình dục thì không ai chăm sóc nuôi dưỡng N và D nên buộc phải đồng ý cho B thực hiện hành vi quan hệ tình dục.

Đến khoảng 10 ngày sau, vào khoảng 12 giờ, B dùng xe mô tô chở N đi chợ LH để N mua quần áo mới, sau đó B lại tiếp tục chở N vào nhà nghỉ VN1 để quan hệ tình dục với N.

Tiếp tục, cách khoảng 15 ngày sau đó, vào khoảng 11 giờ, B dùng xe mô tô chở N đi chợ LH để N lấy quần áo đặt mua qua mạng và chở N đến nhà nghỉ VN1 để quan hệ tình dục.

Đến ngày 22.10.2017, B tiếp tục chở N vào nhà nghỉ VN1 để quan hệ tình dục với N. B và N đang ngồi nói chuyện, chưa kịp quan hệ tình dục với nhau tại phòng nghỉ số 2 thuộc nhà nghỉ VN1 thì bị gia đình nhà ngoại của N đến bắt quả tang. Ngày 01.11.2017, N được người nhà đưa đến Trung tâm y tế huyện TP khám siêu âm, kết quả xác định N có thai 04 tuần 01 ngày.

Ngày 17.11.2017 Trần Thị Quỳnh N gửi đơn tố cáo đến Công an huyện TP yêu cầu xử lý hành vi của Huỳnh Phương B.

Quá trình điều tra, Trần Thị Quỳnh N khai: N đã miễn cưỡng giao cấu với Huỳnh Phương B 10 lần. Lần thứ nhất là vào khoảng 18 giờ ngày 16.8.2017, N đang trong nhà tắm của khu nhà trọ tại công trình xây dựng nơi Huỳnh Phương B đang làm việc thuộc thôn Vĩnh Hưng, xã T, huyện TP thì Huỳnh Phương B mở cửa nhà tắm quan hệ tình dục với N. Sau đó, B 09 lần quan hệ tình dục với N tại nhà nghỉ VN1 thuộc khu phố 4, thị trấn LH, TP thì đến ngày 22.10.2017 bị gia đình phát hiện. Tuy nhiên, đây chỉ là lời khai duy nhất của N, ngoài 04 lần B quan hệ tình dục với N thì không có tài liệu chứng cứ nào khác chứng minh Huỳnh Phương B nhiều lần khác quan hệ tình dục với N theo lời khai nhận của N.

Tại bản kết luận giám định pháp y về độ tuổi số 06/C54B ngày 12.12.2017 Phân viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận: “Qua quá trình khám lâm sàng và kết quả cận lâm sàn. Xác định tại thời điểm giám định (tháng 12/2017) Trần Thị Quỳnh N có độ tuổi từ: 15 năm 02 tháng đến 15 năm 10 tháng”.

Ngày 01.12.2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện TP đã tiến hành thu mẫu tóc của Trần Thị Quỳnh N, thu mẫu mô thai của Trần Thị Quỳnh N và ra Quyết định trưng cầu giám định số 04 yêu cầu Phân viện khoa học hình sự Bộ Công an tại Thành phố Hồ Chí Minh giám định ADN bào thai của Trần Thị Quỳnh N.

Tại bản kết luận giám định số 4666/C09B ngày 31.10.2019 của Phân viện khoa học hình sự Bộ Công an tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Huỳnh Phương B là cha ruột của bào thai của Trần Thị Quỳnh N.

Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên bố bị cáo Huỳnh Phương B phạm tội “Cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”, xử phạt bị cáo Huỳnh Phương B 09 (Chín) năm 06 (Sáu) tháng tù,thời gian tù tính từ ngày bị bắt (21/11/2019).

Sau đó bị cáo làm đơn yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được Tòa án Nhân dân tỉnh Bình Thuận xem xét chấp nhận, Tòa án tỉnh Bình Thuận tuyên bố bị cáo Huỳnh Phương B phạm tội “Cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”, xử  phạt bị  cáo Huỳnh Phương B 08 (tám) năm, 06 (sáu) tháng tù, thời gian tù tính từ ngày bị bắt 21/11/2019.

Luật Hoàng Anh


[1] https://congbobanan.toaan.gov.vn/2ta652700t1cvn/chi-tiet-ban-an, truy cập ngày 16/06/2021.

Tổng đài tư vấn pháp luật

0908 308 123
Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

0908 308 123

luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Tội hiếp dâm là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 20/06/2021

Tội hiếp dâm quy định tại Điều 141 BLHS

Tội hành hạ người khác là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 20/06/2021

Tội hành hạ người khác quy định tại Điều 140 BLHS

Khung hình phạt đối với tội mua bán trái phép chất ma túy được quy định như thế nào?

Hỏi đáp luật Hình Sự 15/06/2021

Tội mua bán trái phép chất ma túy được quy định tại Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 với bốn khung hình phạt chính và một khung hình phạt bổ sung

Tội chiếm đoạt chất ma túy là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 16/06/2021

Tội chiếm đoạt chất ma túy được quy định tại Điều 252 Bộ luật Hình sự năm 2015 gồm bốn yếu tố cấu thành tội phạm là mặt chủ quan, mặt khác quan, khách thể và chủ thể của tội phạm