Tội cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, cản trở ly hôn tự nguyện là gì?

1. Căn cứ pháp lý

Điều 181 thuộc Chương XV Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 ngày 27/11/2015 ngày 27/11/2015 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 12/2017/QH14 ngày 26/06/2017 (sau đây gọi tắt là Bộ luật hình sự) quy định tội cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, cản trở ly hôn tự nguyện như sau:

“Điều 181. Tội cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, cản trở ly hôn tự nguyện

Người nào cưỡng ép người khác kết hôn trái với sự tự nguyện của họ, cản trở người khác kết hôn hoặc duy trì quan hệ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ hoặc cưỡng ép hoặc cản trở người khác ly hôn bằng cách hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần, yêu sách của cải hoặc bằng thủ đoạn khác, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 03 năm.

2. Dấu hiệu pháp lý của tội cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, cản trở ly hôn tự nguyện

2.1. Khách thể của tội phạm

Điều 36 Hiến pháp năm 2013 quy định:

“Điều 36.

1. Nam, nữ có quyền kết hôn, ly hôn. Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ,...”

Kết hôn, ly hôn là một trong những quyền cơ bản của con người nhưng phải tuân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ,...

Để cụ thể hóa quyền này, Điều 2 Luật Hôn nhân và gia đình quy định:

“Điều 2. Những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình

1. Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng...”

Cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, cản trở ly hôn tự nguyện là hành vi xâm phạm đến quyền kết hôn, ly hôn của công dân và chế độ hôn nhân và gia đình.

Như vậy, khách thể của tội phạm là quyền kết hôn, ly hôn – quyền tự do cơ bản của công dân, chế độ hôn nhân và gia đình cũng như những quy phạm pháp luật điều chỉnh về chế độ hôn nhân và gia đình của con người.

2.2. Mặt khách quan của tội phạm

Hành vi thuộc mặt khách quan của tội phạm gồm cưỡng ép người khác kết hôn trái với sự tự nguyện của họ; cản trở người khác kết hôn hoặc duy trì quan hệ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ hoặc cưỡng ép hoặc cản trở người khác ly hôn bằng cách hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần, yêu sách của cải hoặc bằng thủ đoạn khác.

Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật này về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn.

Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án.

Cưỡng ép kết hôn, ly hôn là việc đe dọa, uy hiếp tinh thần, hành hạ, ngược đãi, yêu sách của cải hoặc hành vi khác để buộc người khác phải kết hôn hoặc ly hôn trái với ý muốn của họ.

Cản trở kết hôn, ly hôn là việc đe dọa, uy hiếp tinh thần, hành hạ, ngược đãi, yêu sách của cải hoặc hành vi khác để ngăn cản việc kết hôn của người có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này hoặc buộc người khác phải duy trì quan hệ hôn nhân trái với ý muốn của họ.

Cản trở người khác duy trì quan hệ hôn nhân tự nguyên, tiến bộ là tìm mọi cách chấm dứt quan hệ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ đang tồn tại. Nếu ở hai hành vi trên, người phạm tội tìm mọi cách ngăn cấm kết hôn, ly hôn, thì ở hành vi này người phạm tội lại tìm cách phá vỡ quan hệ hôn nhân đang tồn tại, hành vi cản trở người khác duy trì quan hệ hôn nhân tự nguyện tiến bộ có thể dẫn đến quan hệ hôn nhân tan vỡ, nhưng cũng có thể quan hệ hôn nhân đó không bị tan vỡ nhưng cũng làm cho cuộc sống chung vợ chồng xáo trộn.

Những hành vi trên được thực hiện bằng 05 cách thức cụ thể gồm: hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần, yêu sách của cải hoặc bằng thủ đoạn khác.

Hành hạ là hành vi của một người đối xử tàn ác với người khác (thông thường là đối với người lệ thuộc mình) một cách có hệ thống (lặp đi lặp lại nhiều lần) gây đau đớn về thể xác và tinh thần cho người bị hành hạ.

Hành hạ là hành vi của một người đối xử tàn ác với người khác (thông thường là đối với người lệ thuộc mình) một cách có hệ thống (lặp đi lặp lại nhiều lần) gây đau đớn về thể xác và tinh thần cho người bị hành hạ.

Người bị hành hạ chủ yếu là người có quan hệ lệ thuộc với người phạm tội. Tuy nhiên, cũng có một số trường hợp giữa người phạm tội với người bị hành hạ không có mối quan hệ lệ thuộc. Mối quan hệ lệ thuộc giữa người phạm tội với người bị hành hạ là lệ thuộc về vật chất, về tinh thần. Mối quan hệ này, bắt nguồn quan hệ hôn nhân (vợ chồng), quan hệ huyết thống (cha mẹ với các con, ông bà với các cháu), quan hệ nuôi dưỡng (cha mẹ nuôi với con nuôi, người đỡ đầu với người được đỡ đầu), quan hệ công tác ( thủ trưởng với nhân viên ), quan hệ thầy trò, quan hệ tôn giáo, quan hệ giữa người làm công với chủ, nhất là đối với một số nhà hàng khách sạn tư nhân... Tuy nhiên, người bị hành hạ trong tội cưỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ chủ yếu bắt nguồn từ quan hệ huyết thống.

Ngược đãi là hành vi đối xử một cách tàn nhẫn, trái với lẽ phải, với đạo đức giữa bố mẹ đối với con cái, giữa ông bà đối với các cháu với, giữa vợ chồng với nhau v.v... Tuy nhiên, người bị ngược đãi trong tội cưỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ chủ yếu là do hành vi đối xử một cách tàn nhẫn của bố mẹ đối với con cái, ông bà đối với các cháu.

Uy hiếp tinh thần tức là đe doạ sẽ gây thiệt hại đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, tài sản hoặc đến một lợi ích quan trọng thân thiết làm cho người bị doạ nạt đó có căn cứ lo sợ thực sự mà chịu khuất phục. Ví dụ: đe doạ sẽ giết người, sẽ đốt nhà, sẽ rút phép thông công đối với người theo đạo Thiên chúa,...

Yêu sách của cải tức là thách cưới, thực chất là mua, bán cô dâu, là thủ đoạn của tội cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ nếu là cố ý thách cưới nhằm cho bên nhà trai không thể lo liệu được để lấy cớ không cho cưới mặc dù đôi bên trai, gái đã tự nguyện lấy nhau.

Hoặc bằng thủ đoạn khác tức là bằng những thủ đoạn có tính chất bạo lực khác như đánh người gây thương tích, hoặc những tập tục cũ đôi khi xảy ra ở vùng dân tộc ít người là bắt cóc phụ nữ làm vợ, v.v... Trong trường hợp một bên đã dùng thủ đoạn gian xảo để lừa dối bên kia một cách nghiêm trọng như che giấu hoặc sửa chữa lý lịch chính trị hoặc lý lịch tư pháp đặc biệt xấu của mình làm cho bên bị mắc lừa đồng ý kết hôn, đây cũng là thủ đoạn của hành vi cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ.

Đã bị xử phạt hành chính vè hành vi này mà còn vi phạm là trước đó đã có lần có hành vi cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc đã có lần cản trở kết hôn, ly hôn, cản trở duy trì quan hệ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, đã bị xử phạt hành chính bằng một trong những hình thức xử phạt hành chính hoặc bằng một trong những hình thức xử lý hành chính khác theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính và chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính, nay lại có hành vi vi phạm cưỡng ép kết hôn hoặc đã có lần cản trở kết hôn, cản trở duy trì quan hệ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ. Nếu trước đó người phạm tội tuy có bị xử lý hành chính, nhưng về hành vi khác không phải là hành vi cưỡng ép kết hôn hoặc đã có lần cản trở kết hôn, cản trở duy trì quan hệ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ thì cũng không cấu thành tội phạm này.

Hậu quả của hành vi cưỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ là những thiệt hại về vật chất, tinh thần mà người phạm tội gây ra cho người khác và cho xã hội.

Hành vi cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ có thể gây ra một trong những thiệt hại sau:

- Làm cho việc kết hôn hoặc ly hôn trái với sự tự nguyện của một bên hoặc cả hai bên nam và nữ;

- Làm cho việc kết hôn hoặc ly hôn tự nguyên tiến bộ không thực hiện được;

- Làm cho quan hệ hôn nhân tự nguyện tiến bộ không được duy trì, bị tan vỡ;

- Gây thương tích hoặc gây tổn hại đến sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật chưa tới mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích;

- Gây ra dư luận xấu trong xã hội ảnh hưởng xấu đến chính sách của Đảng và Nhà nước về các quyền của công dân, nhất là đối với chế độ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ.

Mặc dù hậu quả có xảy ra hay không cũng không có ý nghĩa trong việc xác định hành vi phạm tội mà chỉ có ý nghĩa trong việc xác định tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội để quyết định hình phạt. Hậu quả của tội phạm này không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành. Tuy nhiên, nếu hành vi phạm tội đã gây ra hậu quả thì người phạm tội sẽ phải chịu một hình phạt nặng hơn trường hợp chưa gây ra hậu quả.

2.3. Chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội phạm nói chung và của các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình nói riêng là người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, nhưng không phải ai thực hiện hành vi xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình cũng là chủ thể của tội phạm này, mà chỉ những người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo luật định mới là chủ thể của tội phạm.

Chủ thể của tội phạm phải là người từ đủ 16 tuổi trở lên vì tội cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, cản trở ly hôn tự nguyện thuộc loại tội ít nghiêm trọng. Theo Điều 12 Bộ luật Hình sự, người từ đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi loại tội còn người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng.

Chủ thể của tội phạm cũng phải có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự gồm năng lực nhận thức hoặc năng lực làm chủ hành vi. Trường hợp người phạm tội thực hiện hành vi khi không có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ có thể được xem xét loại trừ trách nhiệm hình sự theo Điều 21 Bộ luật Hình sự.

Chủ thể của tội phạm có thể là bất kì ai. Tuy nhiên trong một số hành vi đặc biệt như hành vi hành hạ, ngược đãi nạn nhân, chủ thể của những hành vi này thường là người có mối liên hệ nhất định đối với nạn nhân. Chủ thể của tội phạm có thể là một cá nhân nhưng cũng có thể có đồng phạm cùng thực hiện hoặc một người thực hiện hành vi phạm tội còn những đồng phạm khác có trách nhiệm lên kế hoạch, chuẩn bị tinh thần, công cụ để người thực hành thực hiện hành vi phạm tội.

2.4. Mặt chủ quan của tội phạm

Người phạm tội thực hiện hành vi cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ thực hiện hành vi của mình do lỗi cố ý, tức là người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là cưỡng ép hoặc cản trở người khác kết hôn trái với sự tự nguyện của họ, thấy trước được hậu quả và mong muốn cho hậu quả đó xảy ra. Đối với tội cưỡng ép hoặc cản trở hôn nhân tự nguyên, tiến bộ người phạm tội bao giờ cũng mong muốn cho hậu quả xảy ra. Mục đích là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm.  

3. Hình phật đối với người phạm tội cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, cản trở ly hôn tự nguyện

Điều 181 Bộ luật Hình sự quy định hình phạt phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 03 năm đối với người cưỡng ép người khác kết hôn trái với sự tự nguyện của họ, cản trở người khác kết hôn hoặc duy trì quan hệ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ hoặc cưỡng ép hoặc cản trở người khác ly hôn bằng cách hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần, yêu sách của cải hoặc bằng thủ đoạn khác, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

Luật Hoàng Anh

Tổng đài tư vấn pháp luật

0908 308 123
Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

0908 308 123

luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Tội xâm phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, quyền biểu tình của công dân là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 06/07/2021

Tội xâm phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, quyền biểu tình của công dân quy định tại Điều 167 BLHS

Các tội phạm sở hữu là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 08/07/2021

Các tội phạm sở hữu quy định tại Chương XVI BLHS

Tội cướp tài sản là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 10/07/2021

Tội cướp tài sản quy định tại Điều 168 BLHS

Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 09/07/2021

Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình quy định tại Chương XVII BLHS