Tội đánh tráo người dưới 01 tuổi là gì?

Trẻ em luôn cần sống trong tình yêu thương và sự chăm sóc của cha mẹ ruột, nhất là đối với trẻ sơ sinh, chưa đủ 01 tuổi, sự phụ thuộc vào người mẹ càng lớn. Vì vậy, pháp luật nghiêm cấm những hành vi đánh tráo người dưới 01 tuổi, khiến các em phải xa rời vòng tay bố mẹ.

1. Căn cứ pháp lý

Điều 152 Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 ngày 27/11/2015 ngày 27/11/2015 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 12/2017/QH14 ngày 26/06/2017 (sau đây gọi tắt là Bộ luật hình sự) quy định Tội đánh tráo người dưới 01 tuổi như sau:

Điều 152. Tội đánh tráo người dưới 01 tuổi

1. Người nào đánh tráo người dưới 01 tuổi, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn, nghề nghiệp;

c) Đối với người dưới 01 tuổi mà mình có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng;

d) Phạm tội 02 lần trở lên.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm:

a) Có tính chất chuyên nghiệp;

b) Tái phạm nguy hiểm.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”

2. Dấu hiệu pháp lý của tội đánh tráo người dưới 01 tuổi

2.1. Khách thể của tội phạm

Hành vi đánh tráo trẻ em là hành vi khiến trẻ em phải rời xa bố mẹ của mình từ khi chưa đầy 01 tuổi.

Tội phạm đã xâm phạm đến quyền được sống cùng cha mẹ ruột của trẻ em dưới 01 tuổi. Như vậy, khách thể của tội phạm là quyền tự do, quyền được chăm sóc, giáo dục bởi cha mẹ ruột của trẻ em dưới 01 tuổi và quyền quản lý, chăm sóc, giáo dục trẻ em dưới 01 tuổi của cha mẹ.

2.2. Mặt khách quan của tội phạm

Hành vi thuộc mặt khách quan của tội phạm là hành vi đánh tráo người dưới 01 tuổi.

Đánh tráo trẻ em là dùng trẻ em này để đổi lấy một trẻ em khác theo ý muốn của mình. Việc đánh tráo này thường xảy ra trong các nhà hộ sinh, khi đứa trẻ sinh ra ngoài ý muốn của cha mẹ chúng như: mong muốn có con trai thì lại sinh ra con gái hoặc ngược lại. Hành vi đánh tráo có thể do chính bố mẹ đứa trẻ thực hiện nhưng cũng có thể do thầy thuốc hoặc nhân viên y tế trong Bệnh viện hoặc nhà hộ sinh thực hiện hoặc do người khác thực hiện.

Nạn nhân của tội phạm này phải là trẻ em dưới 01 tuổi, để xác định đổ tuổi của trẻ em, nhà làm luật có đưa ra các căn cứ xác định tuổi của nạn nhân quy định tại Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

Điều 417 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 6 Thông tư liên tịch 06/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH quy định cách xác định tuổi của nạn nhân như sau:

Việc xác định tuổi của người bị hại dưới 18 tuổi căn cứ vào một trong các giấy tờ, tài liệu sau:

a) Giấy chứng sinh;

b) Giấy khai sinh;

c) Chứng minh nhân dân;

d) Thẻ căn cước công dân;

đ) Sổ hộ khẩu;

e) Hộ chiếu.

Trường hợp đã áp dụng các biện pháp hợp pháp mà vẫn không xác định được chính xác thì ngày, tháng, năm sinh của họ được xác định:

a) Trường hợp xác định được tháng nhưng không xác định được ngày thì lấy ngày cuối cùng của tháng đó làm ngày sinh.

b) Trường hợp xác định được quý nhưng không xác định được ngày, tháng thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong quý đó làm ngày, tháng sinh.

c) Trường hợp xác định được nửa của năm nhưng không xác định được ngày, tháng thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong nửa năm đó làm ngày, tháng sinh.

d) Trường hợp xác định được năm nhưng không xác định được ngày, tháng thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong năm đó làm ngày, tháng sinh.

Trường hợp không xác định được năm sinh thì phải tiến hành giám định để xác định tuổi.

Tội phạm hoàn thành kể từ khi người phạm tội có hành vi nhằm vào việc mua, bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em. Nếu hậu quả việc mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em chưa xảy ra thì được cọi là phạm tội chưa đạt.

2.3. Chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội đánh tráo người dưới 01 tuổi là bất kì ai có năng lực trách nhiệm hình sự từ 16 tuổi trở lên.

Thứ nhất, chủ thể của tội phạm có thể là bất kỳ ai, nhưng trên thực tế người phạm tội này thường là chính cha mẹ ruột của trẻ em dưới 01 tuổi, hoặc người làm trong chính cơ sở bệnh viện, nhà hộ sinh.

Thứ hai, theo Khoản 1 Điều 16 Bộ luật Hình sự, người từ đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm về mọi loại tội phạm, Khoản 2 Điều này quy định một số tội phạm mà người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng. Khoản 2 Điều 16 đã liệt kê các tội phạm mà người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự nhưng không bao gồm tội phạm đánh tráo người dưới 01 tuổi. Do vậy, độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự đối với tội đánh tráo người dưới 01 tuổi là người từ đủ 16 tuổi.

Thứ ba, chủ thể của tội phạm phải là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự bao gồm năng lực nhận thức và năng lực làm chủ hành vi của mình.

2.4. Mặt chủ quan của tội phạm

Chủ thể thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội hoàn toàn nhận thức được hậu quả chia tách người dưới 01 tuổi khỏi cha mẹ của họ nhưng vẫn mong muốn hậu quả đó xảy ra. Động cơ phạm tội có thể rất nhiều nhưng chủ yếu là do quan niệm trọng nam khinh nữ, yêu thích con trai theo quan niệm xưa của nước ta, ngoài ra còn có những động cơ khác như con sinh ra bị tàn tật, có dị tật bẩm sinh hoặc mắc các bệnh như bệnh tim bẩm sinh, hở hàm ếch,...

3. Các tình tiết định khung hình phạt cụ thể

a) Có tổ chức.

Có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ và phân công, sắp đặt vai trò của những người cùng thực hiện tội phạm.

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn, nghề nghiệp.

Đây là trường hợp người phạm tội là người có chức vụ, quyền hạn theo luật định hoặc được các cơ quan, tổ chức tổ nhiệm, giao nhiệm vụ đã lợi dụng chức vụ quyền hạn của mình để đánh tráo trẻ em dưới 01 tuổi. Ví dụ, hộ lý tại nhà hộ sinh đánh tráo đứa trẻ mới sinh.

c) Đối với người dưới 01 tuổi mà mình có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng.

Người có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng bao gồm: bố mẹ; ông bà, chú bác, cô dì trong trường hợp bố mẹ cháu chết hoặc ly hôn, ốm đau bệnh tật nạn y không có điều kiện chăm sóc đã giao cho ông bà, chú bác cô dì chăm sóc, nuôi dưỡng cháu dưới 01 tuổi.

d) Phạm tội 02 lần trở lên.

Phạm tội 02 lần trở lên là trường hợp người phạm tội đã thực hiện hành vi phạm tội mua bán người dưới 16 tuổi từ 02 lần trở lên nhưng đều chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.

đ) Có tính chất chuyên nghiệp.

Có tính chất chuyên nghiệp là trường hợp người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội từ 05 lần trở lên (không phân biệt đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chưa được xóa án tích) và người phạm tội lấy khoản lợi bất chính thu được từ việc phạm tội làm nguồn sống chính.

e) Tái phạm nguy hiểm.

Tái phạm nguy hiểm là trường hợp đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý hoặc đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý. Tái phạm là trường hợp đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý hoặc thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do vô ý.

Như vậy đánh tráo người dưới 01 tuổi trong trường hợp tái phạm nguy hiểm là trường trước đây họ đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà đã đánh tráo người dưới 01 tuổi hoặc trước đây họ đã bị kết án về đánh tráo người dưới 01 tuổi, chưa được xóa án tích mà nay lại tiếp tục đánh tráo người dưới 01 tuổi khác.

4. Hình phạt đối với người phạm tội đánh tráo người dưới 01 tuổi

Điều 152 Bộ luật Hình sự quy định 04 khung hình phạt áp dụng đối với người phạm tội đánh tráo người dưới 01 tuổi.

- Khung hình phạt phạt tù từ 02 năm đến 05 năm đối với người đánh tráo người dưới 01 tuổi.

- Khung hình phạt phạt tù từ 03 năm đến 07 năm khi người phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn, nghề nghiệp;

c) Đối với người dưới 01 tuổi mà mình có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng;

d) Phạm tội 02 lần trở lên.

- Khung hình phạt phạt tù từ 07 năm đến 12 năm khi người phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau:

a) Có tính chất chuyên nghiệp;

b) Tái phạm nguy hiểm.

- Khung hình phạt bổ sung, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

 Luật Hoàng Anh

 

 

Tổng đài tư vấn pháp luật

0908 308 123
Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

0908 308 123

luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Phân biệt Tội mua bán người để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân và Tội mua bán, chiếm đoạt mô, bộ phận cơ thể người như thế nào?

Hỏi đáp luật Hình Sự 22/06/2021

Tội mua bán người để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân và Tội mua bán, chiếm đoạt mô, bộ phận cơ thể người

Tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 22/06/2021

Tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người quy định tại Điều 154 BLHS

Tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 22/06/2021

Tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi quy định tại Điều 153 BLHS

Hình phạt áp dụng đối với tội phạm mua bán người dưới 16 tuổi là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 22/06/2021

Hình phạt áp dụng đối với tội phạm mua bán người dưới 16 tuổi