Tội giết người và tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác có gì giống và khác nhau?

Tội giết người và tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là hai loại tội phạm thường bị nhầm lần với nhau. Tuy nhiên theo quy định của pháp luật, đây là hai tội phạm có tính chất, mức độ nguy hiểm hoàn toàn khác nhau. Trong nội dung bài viết này, Luật Hoàng Anh sẽ phân biệt hai loại tội phạm này.

Nội dung

Tội giết người

Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

Căn cứ pháp lý

Điều 123 Bộ luật hình sự

Điều 134 Bộ luật hình sự

Khách thể

Khách thể của tội giết người là quyền được sống, quyền được Nhà nước bảo hộ về tính mạng của con người.

Khách thể của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền được pháp luật bảo hộ về sức khỏe.

Mặt khách quan

Hành vi thuộc mặt khách quan của tội giết người được thể hiện ở hành vi tước bỏ quyền sống của người khác một cách trái pháp luật bằng những thủ đoạn và phương tiện khác nhau gây hậu quả nguy hiểm cho xã hội.

Hành vi phạm tội có thể hành động hoặc không hành động. Các phương tiện như súng, dao, gậy gộc, tay chân, thuốc độc... Hành vi tước bỏ quyền sống của người khác thường được thực hiện bằng các phương thức như bắn, chém, đâm, treo cổ, bóp cổ, đầu độc, đấm đá v.v... Trường hợp không hành động ít gặp nhưng vẫn có thể xảy ra. Ví dụ: Một Y tá cố tình không cho người bệnh uống thuốc theo chỉ định của bác sĩ để người bệnh chết mặc dù người Y tá này phải có nghĩa vụ cho người bệnh uống thuốc.

Hậu quả trực tiếp của tội này thông thường là làm chết người trong trường hợp tội phạm hoàn thành. Để truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giết người, cần xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi phạm tội và hậu quả xảy ra. Nhưng cũng có trường hợp nạn nhân chỉ bị thương, bị cố tật hoặc nạn nhân không ảnh hưởng gì trong trường hợp giết người chưa đạt như nạn nhân bị bắn nhưng không trúng, đầu độc nạn nhân nhưng được cấp cứu kịp thời nên không chết,... Đó là trường hợp giết người chưa đạt đã hoàn thành.

Người phạm tội  phải có hành vi tác động đến thân thể của người khác làm cho người này bị thương, bị tổn hại đến sức khoẻ như: đâm, chém, đấm đá, đốt cháy, đầu độc v.v... Hành vi này về hình thức cũng giống hành vi của tội giết người, nhưng tính chất và mức độ nguy hiểm thấp hơn nên nó chỉ làm cho nạn nhân bị thương hoặc bị tổn hại đến sức khoẻ chứ không làm cho nạn nhân bị chết.

Nạn nhân phải bị thương tích hoặc bị tổn thương đến sức khoẻ ở mức đáng kể. Nếu thương tích không đáng kể thì chưa phải là tội phạm. Theo Điều 134 Bộ luật hình sự, nếu người bị gây thương tích hoặc bị gây tổn hại cho sức khỏe có tỉ lệ tổn thương cơ thể từ 11% trở lên thì người thực hiện những hành vi gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người đó mới bị coi là tội phạm và bị truy cứu trách nhiệm hình sự. 

Tuy nhiên, nếu tỷ lệ tổn thương cơ thể bị hại dưới 11% nhưng người phạm tội thực hiện những hành vi được quy định là tình tiết định khung hình phạt tại Khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự thì  vẫn sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là cấu thành vật chất. Hậu quả thương tổn của nạn nhân là điều kiện bắt buộc đối với tội phạm này. Giữa hành vi thực hiện tội phạm và hậu quả xảy ra phải là mối quan hệ nhân quả. Hành vi phạm tội là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tỉ lệ thương tật của nạn nhân.

Điều 134 Bộ luật Hình sự còn quy định trách nhiệm hình sự đối với giai đoạn chuẩn bị phạm tội. Theo Điều 14 Bộ luật Hình sự quy định chuẩn bị phạm tội là tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm hoặc thành lập, tham gia nhóm tội phạm. Theo đó, chuẩn bị phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người phạm tội là chuẩn bị vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm, a-xít nguy hiểm, hóa chất nguy hiểm hoặc thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm nhằm gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.

Chủ thể

Tội giết người được thực hiện bởi bất kỳ người nào từ đủ 14 tuổi trở lên có năng lực trách nhiệm hình sự. Người từ đủ 14 tuổi phải chịu trách nhiệm về tội phạm quy định ở cả 03 khoản Điều 123.

Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được thực hiện bởi bất kỳ người nào đủ tuổi và có năng lực trách nhiệm hình sự.

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 12 người từ đủ 14 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự. Như vậy, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm về tội Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo Khoản 4,5 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Theo khoản 1 Điều 12, người từ đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm về mọi loại tội phạm. Như vậy người từ đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự nếu thực hiện  hành vi quy định từ Khoản 1 đến Khoản 6 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

 

Mặt chủ quan

Chủ thể thực hiện tội phạm với lỗi cố ý, có thể là lỗi cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp. Người phạm tội biết rõ mức độ nguy hiểm của hành vi mà mình gây ra, nhận thức rõ hậu quả của hành vi phạm tội và nhìn thấy trước hậu quả đó. Tuy nhiên người phạm tội vẫn mong muốn cho hậu quả xảy ra hoặc không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc hậu quả xảy ra.

Hình phạt

Điều 123 Bộ luật Hình sự quy định 03 khung hình phạt như sau:

- Khung hình phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình áp dụng đối với trường hợp người phạm tội giết người thể hiện mức độ và tính nguy hiểm cao của tội phạm. Các trường hợp này được quy định tại Khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự.

- Khung hình phạt tù từ 07 năm đến 15 năm áp dụng đối với người phạm tội giết người nhưng không thuộc các tình tiết tăng nặng ở Khoản 1 Điều 123.

- Khung hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm áp dụng trong trường hợp chuẩn bị phạm tội.

- Hình phạt bổ sung áp dụng đối với người phạm tội giết người có thể là cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm.

Điều 134 Bộ luật Hình sự quy định 06 khung hình phạt như sau:

- Khung hình phạt phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm đối với người cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều này.

- Khung hình phạt phạt tù từ 02 năm đến 06 năm áp dụng với các trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều này.

- Khung hình phạt phạt tù từ 05 năm đến 10 năm khi người phạm tội thuộc một trong các trường hợp tại Khoản 3 Điều 134.

- Khung hình phạt phạt tù từ 07 năm đến 14 năm đối với người phạm tội thuộc một trong các trường hợp theo quy  định tại Khoản 4 Điều 134.

- Khung hình phạt phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân khi người phạm tội thực hiện hành vi: làm chết 02 người trở lên; gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

- Khung hình phạt phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm áp dụng trong trường hợp chuẩn bị phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. 

Luật Hoàng Anh

Tổng đài tư vấn pháp luật

0908 308 123
Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

0908 308 123

luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Tội đe dọa giết người là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 21/06/2021

Tội đe dọa giết người được quy định tại Điều 133 BLHS

Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 21/06/2021

Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác quy định tại Điều 134 BLHS

Án lệ số 01/2016/AL của Hội đồng Thẩm phán Tòa án Nhân dân tối cao là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 21/06/2021

Án lệ số 01/2016/AL làm rõ tội giết người và tội cố ý gây thương tích hoặc tổn hại đến cơ thể của người khác dẫn đến hậu quả chết người.

Phân biệt Tội giết người với Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác dẫn đến chết người như thế nào?

Hỏi đáp luật Hình Sự 21/06/2021

So sánh Tội giết người (Điều 123) với Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác dẫn đến chết người (Khoản 4,5, Điều 134)