Tội hiếp dâm là gì?

Hiếp dâm là từ xưa đến nay đều là một vấn đề gây nhức nhối xã hội. Nó gây ảnh hưởng nặng nề đến bản thân nạn nhân và gây hoang mang đối với những người xung quanh, làm bất ổn tình hình trị an. Do đó, pháp luật hình sự quy định đây là một loại tội phạm, người phạm tội này cần được trừng phạt và giáo dục thích đáng.

1. Căn cứ pháp lý

Điều 141 Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 ngày 27/11/2015 ngày 27/11/2015 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 12/2017/QH14 ngày 26/06/2017 (sau đây gọi tắt là Bộ luật hình sự) quy định Tội hiếp dâm như sau:   

Điều 141. Tội hiếp dâm

1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của nạn nhân, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Có tổ chức;

b) Đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh;

c) Nhiều người hiếp một người;

d) Phạm tội 02 lần trở lên;

đ) Đối với 02 người trở lên;

e) Có tính chất loạn luân;

g) Làm nạn nhân có thai;

h) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

i) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

b) Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội;

c) Làm nạn nhân chết hoặc tự sát

4. Phạm tội đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều này, thì bị xử phạt theo mức hình phạt quy định tại các khoản đó.

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”

2. Dấu hiệu pháp lý của tội hiếp dâm

2.1. Khách thể của tội phạm

Hiếp dâm là hành vi của một người hoặc một số người dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân, hoặc thủ đoạn khác để giao cấu với nạn nhân trái với ý muốn của họ.

Tội phạm này xâm phạm trực tiếp đến thân thể, danh dự của nạn nhân, nhất là vấn đề trinh tiết của nạn nhân nữ, xâm phạm đến trật tự trị an của xã hội.

Do đó, khách thể của tội phạm là  quyền bất khả xâm phạm về tình dục của con người; thân thể, nhân phẩm, danh dự, sức khỏe của con người; và trật tự an toàn xã hội.

2.2. Mặt khách quan của tội phạm

Mặt khách quan của tội phạm thể hiện ở hành vi dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu với nạn nhân hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của họ.

Dùng vũ lực

Hành vi dùng vũ lực trong tội hiếp dâm cũng tương tự với hành vi dùng vũ lực ở một số tội phạm khác mà người phạm tội có dùng vũ lực, nhưng ở tội hiếp dâm, hành vi dùng vũ lực là nhằm giao cấu với người bị tấn công. Hành vi này, thông thường là làm thế nào để buộc nạn nhân phải để cho kẻ tấn công giao cấu như: Vật lộn, giữ chân tay, bịt mồm, bóp cổ, đánh đấm, trói v.v... Những hành vi này chủ yếu làm tê liệt sự kháng cự của người bị hại để người phạm tội  thực hiện được việc giao cấu.

Đe doạ dùng vũ lực

Đe doạ dùng vũ lực là hành vi của một người dùng lời nói hoặc hành động uy hiếp tinh thần của người khác, làm cho người bị đe dọa sợ hãi như: doạ giết, dọa đánh, dọa bắn... làm cho người bị hại sợ hãi phải để cho người phạm tội giao cấu trái với ý muốn của mình. Người phạm tội có thể đe dọa dùng vũ lực trực tiếp với nạn nhân như dọa giết nạn nhân,... nhưng cũng có thể đe dọa sẽ dùng vũ lực với người thân thích, người mà nạn nhân quan tâm như đe dọa sẽ giết con gái của nạn nhân nếu nạn nhân ko để cho hắn hiếp dâm,...

Lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân

Theo Khoản 7 Điều 2 Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định tại các Điều 141, 142, 143, 144, 145, 146, 147 của Bộ luật Hình sự và việc xét xử vụ án xâm hại tình dực người dưới 18 tuổi quy định:

Lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân là là việc người phạm tội lợi dụng tình trạng người bị hại lâm vào một trong những hoàn cảnh sau đây để giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác:

a) Người bị hại không thể chống cự được (ví dụ: người bị hại bị tai nạn, bị ngất, bị trói, bị khuyết tật... dẫn đến không thể chống cự được);

b) Người bị hại bị hạn chế hoặc bị mất khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi (ví dụ: người bị hại bị say rượu, bia, thuốc ngủ, thuốc gây mê, ma túy, thuốc an thần, thuốc kích thích, các chất kích thích khác, bị bệnh tâm thần hoặc bị bệnh khác... dẫn đến hạn chế hoặc mất khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi).

Hành vi dùng thủ đoạn khác

Theo Khoản 8 Điều 2 Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định tại các Điều 141, 142, 143, 144, 145, 146, 147 của Bộ luật Hình sự và việc xét xử vụ án xâm hại tình dực người dưới 18 tuổi quy định:

Thủ đoạn khác bao gồm các thủ đoạn như đầu độc nạn nhân; cho nạn nhân uống thuốc ngủ, thuốc gây mê, uống rượu, bia hoặc các chất kích thích mạnh khác làm nạn nhân lâm vào tình trạng mất khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi để giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác; hứa hẹn cho tốt nghiệp, cho đi học, đi thi đấu, đi biểu diễn ở nước ngoài để giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác.

Giao cấu trái với ý muốn của nạn nhân

Theo Khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định tại các Điều 141, 142, 143, 144, 145, 146, 147 của Bộ luật Hình sự và việc xét xử vụ án xâm hại tình dực người dưới 18 tuổi quy định:

Giao cấu là hành vi xâm nhập của bộ phận sinh dục nam vào bộ phận sinh dục nữ, với bất kỳ mức độ xâm nhập nào.

Giao cấu với người dưới 10 tuổi được xác định là đã thực hiện không phụ thuộc vào việc đã xâm nhập hay chưa xâm nhập.

Giao cấu trái với ý muốn của nạn nhân là hành vi xâm nhập của bộ phận sinh dục nam vào bộ phận sinh dục nữ, với bất kỳ mức độ xâm nhập nào, không được sự đồng ý của nạn nhân. Muốn đánh giá thái độ của nạn nhân phải căn cứ vào diễn biến quá trình phạm tội và sự chống trả, phản ứng của nạn nhân.

Thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác

Theo Khoản 3 Điều 2 Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định tại các Điều 141, 142, 143, 144, 145, 146, 147 của Bộ luật Hình sự và việc xét xử vụ án xâm hại tình dực người dưới 18 tuổi quy định:

Đây là là hành vi của những người cùng giới tính hay khác giới tính sử dụng bộ phận sinh dục nam, bộ phận khác trên cơ thể (ví dụ: ngón tay, ngón chân, lưỡi...), dụng cụ tình dục xâm nhập vào bộ phận sinh dục nữ, miệng, hậu môn của người khác với bất kỳ mức độ xâm nhập nào, bao gồm một trong các hành vi sau đây:

a) Đưa bộ phận sinh dục nam xâm nhập vào miệng, hậu môn của người khác;

b) Dùng bộ phận khác trên cơ thể (ví dụ: ngón tay, ngón chân, lưỡi...), dụng cụ tình dục xâm nhập vào bộ phận sinh dục nữ, hậu môn của người khác.

Tất cả những hành vi trên đều phải trái ý muốn của người bị hại. Trái với ý muốn của nạn nhân là người bị hại không đồng ý, phó mặc hoặc không có khả năng biểu lộ ý chí của mình đối với hành vi quan hệ tình dục cố ý của người phạm tội. Chỉ khi nào chứng minh việc giao cấu đó là trái với ý muốn của người bị hại thì người có hành vi giao cấu mới bị coi là phạm tội hiếp dâm.

Dấu hiệu trái với ý muốn của người bị hại là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội hiếp dâm, nhưng dấu hiệu này chỉ có ý nghĩa đối với trường hợp người bị hại từ đủ 13 tuổi trở lên, còn đối với trường hợp người bị hại chưa đủ 13 tuổi thì dù có trái ý muốn hay không, người có hành vi giao cấu với họ đều là phạm tội hiếp dâm và người phạm tội sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điểm b Khoản 1 Điều 142 Bộ luật hình sự.

Tội phạm được coi là hoàn thành từ thời điểm có hành động giao cấu, không cần căn cứ là đã giao cấu xong hay chưa. Nếu người phạm tội mới chỉ có hành vi dùng bạo lực hoặc thủ đoạn khác nhưng chưa kịp giao cấu mà bị ngăn chặn thì phạm tội chưa đạt. Nếu nửa chừng chấm dứt tội phạm thì người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi thực tế đã gây ra như gây thương tích, làm nhục người khác...

2.3. Chủ thể của tội phạm

Tội hiếp dâm được thực hiện bởi bất kỳ người nào từ đủ 14 tuổi trở lên có năng lực trách nhiệm hình sự.

Thứ nhất, tội hiếp dâm được thực hiện bởi bất kỳ người nào. Đó có thể là công dân Việt Nam, người nước ngoài hay người không quốc tịch. Chủ thể thực hiện tội phạm có thể là cá nhân, thực hiện hành vi hiếp dâm một mình. Nhưng cũng có thể là vụ án đồng phạm, nhiều người cùng thực hiện hành vi hiếp dâm hoặc có một người thực hiện việc hiếp dâm nhưng có người chỉ huy, hướng dẫn, có người khác xúi giục, giúp sức để người đó thực hiện hành vi hiếp dâm thành công. Trên thực tế, chủ thể của tội hiếp dâm thường là nam giới.

Thứ hai, theo quy định tại Khoản 2 Điều 12 người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng quy định tại Điều 141 Bộ luật hình sự. Khoản 1 Điều 14 Bộ luật Hình sự quy định người từ đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm về mọi loại tội phạm. Căn cứ vào quy định phân loại tội phạm tại Điều 9 Bộ luật Hình sự, tội phạm quy định tại Khoản 1 Điều 141 Bộ luật Hình sự thuộc loại tội nghiêm trọng, tội phạm quy định tại các khoản 2,3,4 thuộc loại tội phạm rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng. Do đó người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về các tội quy định tại Khoản 2,3,4 Điều 141 Bộ luật Hình sự và người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm về tất cả các tội phạm theo quy định từ Khoản 1 đến Khoản 5 Điều 141 Bộ luật Hình sự.

Thứ ba, người có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ. Tức là người đó phải có cả năng lực nhận thức và năng lực điều khiển hành vi. Nếu người đó phạm tội trong trường hợp không có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc bị hạn chế năng lực hình sự thì có thể được loại trừ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 21 Bộ luật hình sự.

2.4. Mặt chủ quan của tội phạm

Tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội nhận thức được hành vi mình làm là gì, biết trước được hậu quả sẽ xâm hại tình dục đối với nạn nhân và mong muốn hậu quả đó xảy ra. Người phạm tội thực hiện hành vi này với mong muốn thỏa mãn nhu cầu sinh lý của mình.

3. Các tình tiết định khung hình phạt

 a) Có tổ chức.

Hiếp dâm có tổ chức cũng như trường hợp phạm tội có tổ chức khác. Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự cấu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm. Phạm tội có tổ chức bao gồm nhiều người cùng tham gia, trong đó có người tổ chức, người thực hành, người xúi dục, người giúp sức. Đối với tội hiếp dâm có tổ chức, có thể tất cả những người tham gia đều là người thực hành (đều có hành vi giao cấu với người bị hại) nhưng cũng có trường hợp có người không giao cấu với người bị hại nhưng vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội hiếp dâm. Ví dụ: A, B, C, D bàn bạc bắt chị M đến một nơi vắng, chúng phân công B và C giữ chân tay chị M, còn D bịt mồm chị M để cho A giao cấu với chị M. Sau khi A giao cấu xong, hắn bảo D hiếp chị M để hắn bịt mồm, nhưng D chưa kịp giao cấu với chị M thì bị tổ tuần tra phát hiện bắt giữ. Trong trường hợp này, mặc dù chỉ có A gao cấu với chị M, nhưng tất cả bốn tên A, B, C, D đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội hiếp dâm với tình tiết là hiếp dâm có tổ chức.

b) Đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh

Người phạm tội và người bị hại trong trường hợp này phải có mối quan hệ, trong đó người phạm tội có nghĩa vụ đối với người bị hại. Nghĩa vụ này xuất phát từ quan hệ huyết thống như bố mẹ đối với con cái, quan hệ giáo dục như thầy giáo đối với học sinh, quan hệ chữa bệnh như thầy thuốc đối với bệnh nhân v.v...

Khi xét đến các quan hệ này, cần chú ý là chỉ khi nào hành vi phạm tội của người có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh đã lợi dụng sự chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh để hiếp dâm người được chăm sóc, được giáo dục hoặc được chữa bệnh thì mới thuộc trường hợp phạm tội này, nếu hành vi hiếp dâm không liên quan đến việc chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh thì không thuộc trường hợp phạm tội này. Ví dụ: anh A là giáo viên trường trung học phổ thông B, anh A chuyên dạy các lớp khối 12 học buổi sáng. Một hôm do uống rượu say, bắt gặp cháu C (đang trên đường từ lớp học thêm về nhà), anh A đã hiếp dâm cháu C. Sau đó anh A mới biết cháu C là học sinh lớp 11 trường trung học phổ thông B (chuyên học vào buổi chiều). Trong trường hợp này anh A không phạm tội hiếp dâm đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh.

c) Nhiều người hiếp một người

Theo Khoản 3 Điều 4 Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định tại các Điều 141, 142, 143, 144, 145, 146, 147 của Bộ luật Hình sự và việc xét xử vụ án xâm hại tình dực người dưới 18 tuổi quy định:

Nhiều người hiếp một người là trường hợp 02 người trở lên hiếp dâm 01 người. Cũng được coi là “nhiều người hiếp một người”, nếu có từ 02 người trở lên cùng bàn bạc, thống nhất sẽ thay nhau hiếp dâm 01 người, nhưng vì lý do ngoài ý muốn mới có 01 người thực hiện được hành vi hiếp dâm.

Không coi là “nhiều người hiếp một người”, nếu có từ 02 người trở lên câu kết với nhau tổ chức, giúp sức cho 01 người hiếp dâm (trường hợp này là đồng phạm).

d) Phạm tội 02 lần trở lên

Theo Khoản 2 Điều 4 Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định tại các Điều 141, 142, 143, 144, 145, 146, 147 của Bộ luật Hình sự và việc xét xử vụ án xâm hại tình dực người dưới 18 tuổi quy định:

Phạm tội 02 lần trở lên là trường hợp người phạm tội đã thực hiện hành vi phạm tội từ 02 lần trở lên nhưng chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.

đ) Đối với 02 người trở lên

Đây là trường hợp người phạm tội cùng lúc thực hiện hiếp dâm đối với 02 người trở lên. e) Có tính chất loạn luân.

Theo Khoản 1 Điều 4 Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định tại các Điều 141, 142, 143, 144, 145, 146, 147 của Bộ luật Hình sự và việc xét xử vụ án xâm hại tình dực người dưới 18 tuổi quy định:

Có tính chất loạn luân là một trong các trường hợp sau đây:

- Phạm tội đối với người cùng dòng máu về trực hệ, với anh chị em cùng cha mẹ, anh chị em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha;

- Phạm tội đối với cô ruột, dì ruột, chú ruột, bác ruột, cậu ruột, cháu ruột;

- Phạm tội đối với con nuôi, bố nuôi, mẹ nuôi;

- Phạm tội đối với con riêng của vợ, con riêng của chồng, bố dượng, mẹ kế;

- Phạm tội đối với con dâu, bố chồng, mẹ vợ, con rể.

g) Làm nạn nhân có thai.

Hiếp dâm mà làm nạn nhân có thai là do hành vi hiếp dâm của người phạm tội mà nạn nhân có thai, tức là cái thai của nạn nhân là kết quả của việc giao cấu giữa người phạm tội với nạn nhân. Nếu nạn nhân tuy có bị hiếp dâm nhưng việc nạn nhân có thai lại là kết quả của việc giao cấu giữa nạn nhân với người khác thì người phạm tội hiếp dâm không phải chịu tình tiết “làm nạn nhân có thai”.

h) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% trở lên.

Căn cứ để đánh giá mức độ thương tích, mức độ rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân là kết quả giám định pháp y theo quy định tại Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần.

i) Tái phạm nguy hiểm.

Tái phạm nguy hiểm là trường hợp đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý hoặc đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý. Tái phạm là trường hợp đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý hoặc thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do vô ý.

Như vậy hiếp dâm trong trường hợp tái phạm nguy hiểm là trường trước đây họ đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà đã hiếp dâm người khác hoặc trước đây họ đã bị kết án về tội hiếp dâm, chưa được xóa án tích mà nay lại tiếp tục hiếp dâm người khác.

k) Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội.

Người phạm tội biết mình nhiễm HIV mà vẫn hiếp dâm, tức là cố ý lây truyền HIV cho người khác bằng hành vi hiếp dâm, làm cho tính chất và mức độ của hành vi hiếp dâm nguy hiểm hơn nhiều so với trường hợp hiếp dâm bình thường.

Khi áp dụng tình tiết này đối với người phạm tội cần chú ý một số điểm như sau:

Nếu có căn cứ cho rằng người phạm tội biết mình nhiễm HIV mà vẫn hiếp dâm thì mới áp dụng tình tiết này, nếu người phạm tội bị nhiễm HIV thật nhưng họ không biết, sau khi phạm tội cơ quan Y tế mới xét nghiệm thấy người phạm tội bị nhiễm HIV thì không áp dụng tình tiết này đối với người phạm tội. Chỉ cần xác định người phạm tội biết mình nhiễm HIV mà vẫn hiếp dâm là thuộc trường hợp phạm tội này rồi mà không cần phải xác định người bị hại có bị lây nhiễm HIV hay không.

l) Làm nạn nhân chết hoặc tự sát.

Trường hợp làm nạn nhân chết là trường hợp nạn nhân do bị hiếp dâm mà chết, nếu nạn nhân bị chết không phải là do bị hiếp mà do nguyên nhân khác thì không thuộc trường hợp phạm tội.

Nạn nhân tự sát là trường hợp bởi vì bị hiếp dâm, nạn nhân xấu hổ, tủi nhục, không còn mong muốn sống tiếp nên đã tự sát.

m) Phạm tội đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi.

Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi là người chưa thành niên, họ chưa phát triển đầy đủ về nhận thức hay thể chất, nhất là đối với các em nữ, bộ phận sinh dục của các em vẫn chưa phát triển hoàn toàn. Nếu xảy ra quan hệ tình dục sẽ gây ảnh hưởng lớn đến tương lai của các em. Do đó, trường hợp hiếp dâm người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi thuộc khung hình phạt tăng nặng của tội hiếp dâm.

4. Hình phạt đối với người phạm tội hiếp dâm

Điều 141 Bộ luật Hình sự quy định 5 khung hình phạt đối với người phạm tội như sau:

- Khung hình phạt phạt tù từ 02 năm đến 07 năm đối với người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của nạn nhân.

- Khung hình phạt phạt tù từ 07 năm đến 15 năm đối với người phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây: Có tổ chức; đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh; Nhiều người hiếp một người; phạm tội 02 lần trở lên; đối với 02 người trở lên; có tính chất loạn luân; làm nạn nhân có thai; gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%; tái phạm nguy hiểm.

- Khung hình phạt phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân đối với người phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây: Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên; biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội; làm nạn nhân chết hoặc tự sát.

- Khung hình phạt phạt tù từ 05 năm đến 10 năm trong trường hợp nạn nhân là người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi. Tuy nhiên, người phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại Khoản 2 hoặc Khoản 3, mà nạn nhân là người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi thì người phạm tội bị xử phạt theo mức hình phạt quy định tại các Khoản 2 hoặc Khoản 3 đó.

- Khung hình phạt bổ sung, người phạm tội có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

5. Vụ án thực tế xét xử về tội hiếp dâm

Bản án số:16/2021/HSST ngày 23/02/2021 “V/v xét xử bị cáo Nguyễn Trọng T phạm tội hiếp dâm” của Tòa án Nhân dân huyện Vĩnh Cửu tỉnh Đồng Nai.[1]

Khoảng 03 giờ ngày 06/9/2020, Nguyễn Trọng T sau khi uống rượu và đang ở nhà tại Khu 2, ấp B, xã H, huyện C thì muốn quan hệ tình dục. T biết bà Trần Thị N, sinh năm 1956, ngụ cùng ấp,thường dậy sớm một mình, nấu cháo lòng bán nên T đi bộ khoảng 500m đến quán cháo lòng bà N, nói dối mẹ T bị bệnh nặng và nhờ bà N đến cứu giúp. Bà N tưởng thật nên đồng ý đi theo T về nhà. T dẫn bà N đến phòng ngủ sát phòng khách, ôm vật bà N xuống nệm rồi dùng tay cởi quần bà N.  Bà N kháng cự và la lên, dùng tay cào cấu, đánh vào vùng mặt, miệng, vai, hông của T. T dùng tay đấm vào mặt, miệng của bà N làm bà N bị gãy răng và chảy máu miệng. Đồng thời T dùng gối đè lên mặt bà N và đe dọa giết bà N nếu kháng cự. Sợ bị giết nên bà N nằm im, T đè lên người bà N thực hiện hành vi giao cấu.T đút vào,rút ra khoảng 5 đến 6 lần thì đưa dương vật ra ngoài, dùng tay tự kích thích dương vật và xuất tinh lên đùi bà N. T nhìn thấy bà N có đeo chiếc nhẫn vàng ở tay nên hỏi xin nhưng bà N không cho nên T để bà N đi về. Bà N đến Công an xã Bình Hòa, huyện Vĩnh Cửu tố cáo hành vi của T và yêu cầu khởi tố vụ án hình sự. Ngày 09/9/2020, Nguyễn Trọng T đến Công an xã Bình Hòa đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về tình dục số 0938/TD22020 ngày 16/10/2020 của Giám định viên Trung tâm pháp y Đồng Nai kết luận: Màng trinh: Chỉ còn lại dấu tích ở phụ nữ đã sinh con khuyết vị trí 06 giờ, bờ mép màng trinh không phù nề, không xung huyết, không chảy máu.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 0937/TCT/2020 ngày 19/10/2020 của Giám định viên Trung tâm pháp y tỉnh Đồng Nai kết luận: Tổn thương mất răng 3.1 (áp dụng Chương 11, mục II.1.2.1), Tỷ lệ: 02%. Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ trưởng Bộ y tế quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định Pháp y thì tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Trần Thị N là: 02% (hai phần trăm).

Bị cáo Nguyễn Trọng T là người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc dùng vũ lực, giao cấu người khác trái ý muốn của họ là vi phạm pháp luật nhưng để thỏa mãn dục vọng, bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội hiếp dâm bà N. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến nhân phẩm của phụ nữ được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng đến trật tự, trị an ở địa phương, gây bất bình trong quần chúng nhân dân nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi của mình gây ra.

Vì lẽ đó, Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu tỉnh Đồng Nai tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng T phạm tội “Hiếp dâm”, xử phạt bị cáo T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo T để thi hành án.

Luật Hoàng Anh


[1] https://congbobanan.toaan.gov.vn/2ta688605t1cvn/chi-tiet-ban-an, truy cập ngày 15/6/2021.

Tổng đài tư vấn pháp luật

0908 308 123
Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

0908 308 123

luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Tội mua bán trái phép chất ma túy là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 13/06/2021

Tội mua bán trái phép chất ma túy được quy định tại Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 bao gồm bốn yếu tố khách thể, chủ thể, mặt khách quan và mặt chủ quan của tội phạm

Tội vận chuyển trái phép chất ma túy là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 13/06/2021

Tội vận chuyển trái phép chất ma túy được quy định tại Điều 250 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) bao gồm bốn yếu tố cơ bản cấu thành tội phạm

Tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong khi thi hành công vụ là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 20/06/2021

Tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong khi thi hành công vụ quy định tại Điều 137 BLHS

Khung hình phạt đối với tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định pháp luật hình sự?

Hỏi đáp luật Hình Sự 14/06/2021

Tội tàng trữ trái phép chất ma túy được quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 với bốn khung hình phạt chính và một khung hình phạt bổ sung