Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi là gì?

Trong bài viết dưới đây, Luật Hoàng Anh xin giới thiệu đến bạn đọc nội dung quy định pháp luật hình sự về tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi.

1. Căn cứ pháp lý

Điều 142 Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 ngày 27/11/2015 ngày 27/11/2015 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 12/2017/QH14 ngày 26/06/2017 (sau đây gọi tắt là Bộ luật hình sự) quy định Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi như sau:

“Điều 142. Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi trái với ý muốn của họ;

b) Giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người dưới 13 tuổi.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:

a) Có tính chất loạn luân;

b) Làm nạn nhân có thai;

c) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

d) Đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh;

đ) Phạm tội 02 lần trở lên;

e) Đối với 02 người trở lên;

g) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Có tổ chức;

b) Nhiều người hiếp một người;

c) Đối với người dưới 10 tuổi;

d) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

đ) Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội;

e) Làm nạn nhân chết hoặc tự sát.

4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”

2. Dấu hiệu pháp lý của tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi

2.1. Khách thể của tội phạm

Thống kê của Quỹ dân số Liên hiệp quốc (UNFPA) cho thấy, cứ 4 trẻ em nữ có 1 em bị xâm hại tình dục, trong 6 trẻ em nam có 1 em bị xâm hại tình dục; 93% kẻ xâm hại là người các em quen biết, trong đó có đến 47% là người thân trong gia đình các em.[1]

Hiếp dâm người dưới 16 tuổi là hành vi sử dụng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc các hành vi phạm tội khác nhằm mục đích giao cấu với trẻ em (người dưới 16 tuổi).

Tội phạm này xâm phạm quyền bất khả xâm phạm về tình dục, danh dự và nhân phẩm của trẻ em. Trong nhiều trường hợp tội phạm còn xâm hại đến sức khỏe của trẻ em và ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội.

Như vậy, khách thể của tội phạm là quyền bất khả xâm phạm về thân thể, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của người dưới 16 tuổi.

2.2. Mặt khách quan của tội phạm

Hành vi thuộc mặt khách quan của tội phạm hiếp dâm người dưới 16 tuổi gồm dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái ý muốn của người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi và hành vi giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người dưới 13 tuổi.

Dùng vũ lực

Hành vi dùng vũ lực trong tội hiếp dâm cũng tương tự với hành vi dùng vũ lực ở một số tội phạm khác mà người phạm tội có dùng vũ lực, nhưng ở tội hiếp dâm, hành vi dùng vũ lực là nhằm giao cấu với người dưới 16 tuổi bị tấn công. Hành vi này, thông thường là làm thế nào để buộc nạn nhân phải để cho kẻ tấn công giao cấu như: Vật lộn, giữ chân tay, bịt mồm, bóp cổ, đánh đấm, trói v.v... Những hành vi này chủ yếu làm tê liệt sự kháng cự của người bị hại để người phạm tội  thực hiện được việc giao cấu.

Đe doạ dùng vũ lực

Đe doạ dùng vũ lực là hành vi của một người dùng lời nói hoặc hành động uy hiếp tinh thần của người dưới 16 tuổi, làm cho người bị đe dọa sợ hãi như: doạ giết, dọa đánh, dọa bắn... làm cho người bị hại sợ hãi phải để cho người phạm tội giao cấu trái với ý muốn của mình. Người phạm tội có thể đe dọa dùng vũ lực trực tiếp với nạn nhân như dọa giết nạn nhân,... nhưng cũng có thể đe dọa sẽ dùng vũ lực với người thân thích, người mà nạn nhân quan tâm như đe dọa sẽ giết cha mẹ của nạn nhân nếu nạn nhân ko để cho hắn hiếp dâm,...

Lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân

Theo Khoản 7 Điều 2 Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định tại các Điều 141, 142, 143, 144, 145, 146, 147 của Bộ luật Hình sự và việc xét xử vụ án xâm hại tình dực người dưới 18 tuổi quy định:

Lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân là là việc người phạm tội lợi dụng tình trạng người bị hại lâm vào một trong những hoàn cảnh sau đây để giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác:

a) Người bị hại không thể chống cự được (ví dụ: người bị hại bị tai nạn, bị ngất, bị trói, bị khuyết tật... dẫn đến không thể chống cự được);

b) Người bị hại bị hạn chế hoặc bị mất khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi (ví dụ: người bị hại bị say rượu, bia, thuốc ngủ, thuốc gây mê, ma túy, thuốc an thần, thuốc kích thích, các chất kích thích khác, bị bệnh tâm thần hoặc bị bệnh khác... dẫn đến hạn chế hoặc mất khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi).

Hành vi dùng thủ đoạn khác

Theo Khoản 8 Điều 2 Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định tại các Điều 141, 142, 143, 144, 145, 146, 147 của Bộ luật Hình sự và việc xét xử vụ án xâm hại tình dực người dưới 18 tuổi quy định:

Thủ đoạn khác bao gồm các thủ đoạn như đầu độc nạn nhân; cho nạn nhân uống thuốc ngủ, thuốc gây mê, uống rượu, bia hoặc các chất kích thích mạnh khác làm nạn nhân lâm vào tình trạng mất khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi để giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác; hứa hẹn cho tốt nghiệp, cho đi học, đi thi đấu, đi biểu diễn ở nước ngoài để giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác.

Giao cấu trái với ý muốn của nạn nhân

Theo Khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định tại các Điều 141, 142, 143, 144, 145, 146, 147 của Bộ luật Hình sự và việc xét xử vụ án xâm hại tình dực người dưới 18 tuổi quy định:

Giao cấu là hành vi xâm nhập của bộ phận sinh dục nam vào bộ phận sinh dục nữ, với bất kỳ mức độ xâm nhập nào.

Giao cấu với người dưới 10 tuổi được xác định là đã thực hiện không phụ thuộc vào việc đã xâm nhập hay chưa xâm nhập.

Giao cấu trái với ý muốn của nạn nhân là hành vi xâm nhập của bộ phận sinh dục nam vào bộ phận sinh dục nữ, với bất kỳ mức độ xâm nhập nào, không được sự đồng ý của nạn nhân. Muốn đánh giá thái độ của nạn nhân phải căn cứ vào diễn biến quá trình phạm tội và sự chống trả, phản ứng của nạn nhân.

Thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác

Theo Khoản 3 Điều 2 Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định tại các Điều 141, 142, 143, 144, 145, 146, 147 của Bộ luật Hình sự và việc xét xử vụ án xâm hại tình dực người dưới 18 tuổi quy định:

Đây là hành vi của những người cùng giới tính hay khác giới tính sử dụng bộ phận sinh dục nam, bộ phận khác trên cơ thể (ví dụ: ngón tay, ngón chân, lưỡi...), dụng cụ tình dục xâm nhập vào bộ phận sinh dục nữ, miệng, hậu môn của người khác với bất kỳ mức độ xâm nhập nào, bao gồm một trong các hành vi sau đây:

a) Đưa bộ phận sinh dục nam xâm nhập vào miệng, hậu môn của người khác;

b) Dùng bộ phận khác trên cơ thể (ví dụ: ngón tay, ngón chân, lưỡi...), dụng cụ tình dục xâm nhập vào bộ phận sinh dục nữ, hậu môn của người khác.

Tất cả những hành vi trên đều phải trái ý muốn của người bị hại. Trái với ý muốn của nạn nhân là người bị hại không đồng ý, phó mặc hoặc không có khả năng biểu lộ ý chí của mình đối với hành vi quan hệ tình dục cố ý của người phạm tội. Chỉ khi nào chứng minh việc giao cấu đó là trái với ý muốn của người bị hại thì người có hành vi giao cấu mới bị coi là phạm tội hiếp dâm. Tuy nhiên, dấu hiệu trái với ý muốn của người bị hại chỉ là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội hiếp dâm đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, còn đối với trường hợp người bị hại chưa đủ 13 tuổi thì dù có trái ý muốn hay không, người có hành vi giao cấu với họ đều là phạm tội hiếp dâm và người phạm tội sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điểm b Khoản 1 Điều 142 Bộ luật hình sự.

Tuổi của nạn nhân (người bị hiếp) là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội hiếp dâm trẻ em. Việc xác định tuổi của người bị hại trên cơ sở giấy khai sinh của họ nếu trường hợp mất giấy khai sinh hoặc không có giấy khai sinh thì các cơ quan tiến hành tố tụng phải áp dụng tất cả các biện pháp có thể được, để xác định tuổi thật của người bị hại.

Điều 417 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 6 Thông tư liên tịch 06/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH quy định cách xác định tuổi của nạn nhân dưới 16 tuổi như sau:

Việc xác định tuổi của người bị hại dưới 16 tuổi căn cứ vào một trong các giấy tờ, tài liệu sau:

a) Giấy chứng sinh;

b) Giấy khai sinh;

c) Chứng minh nhân dân;

d) Thẻ căn cước công dân;

đ) Sổ hộ khẩu;

e) Hộ chiếu.

Trường hợp đã áp dụng các biện pháp hợp pháp mà vẫn không xác định được chính xác thì ngày, tháng, năm sinh của họ được xác định:

a) Trường hợp xác định được tháng nhưng không xác định được ngày thì lấy ngày cuối cùng của tháng đó làm ngày sinh.

b) Trường hợp xác định được quý nhưng không xác định được ngày, tháng thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong quý đó làm ngày, tháng sinh.

c) Trường hợp xác định được nửa của năm nhưng không xác định được ngày, tháng thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong nửa năm đó làm ngày, tháng sinh.

d) Trường hợp xác định được năm nhưng không xác định được ngày, tháng thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong năm đó làm ngày, tháng sinh.

Trường hợp không xác định được năm sinh thì phải tiến hành giám định để xác định tuổi.

Tội phạm được coi là hoàn thành từ thời điểm có hành động giao cấu, không cần căn cứ là đã giao cấu xong hay chưa. Nếu người phạm tội mới chỉ có hành vi dùng bạo lực hoặc thủ đoạn khác nhưng chưa kịp giao cấu mà bị ngăn chặn thì phạm tội chưa đạt. Nếu nửa chừng chấm dứt tội phạm thì người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi thực tế đã gây ra như gây thương tích cho người dưới 16 tuổi, làm nhục người khác...

2.3. Chủ thể của tội phạm

Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi được thực hiện bởi bất kỳ người nào từ đủ 14 tuổi trở lên có năng lực trách nhiệm hình sự.

Thứ nhất, tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi được thực hiện bởi bất kỳ người nào. Đó có thể là công dân Việt Nam, người nước ngoài hay người không quốc tịch. Chủ thể thực hiện tội phạm có thể là cá nhân, thực hiện hành vi hiếp dâm một mình. Nhưng cũng có thể là vụ án đồng phạm, nhiều người cùng thực hiện hành vi hiếp dâm hoặc có một người thực hiện việc hiếp dâm nhưng có người chỉ huy, hướng dẫn, có người khác xúi giục, giúp sức để người đó thực hiện hành vi hiếp dâm thành công. Trên thực tế, chủ thể của tội hiếp dâm thường là nam giới.

Thứ hai, theo quy định tại Khoản 2 Điều 12 người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng quy định tại Điều 142 Bộ luật hình sự. Cả ba khoản 1,2,3 Điều 142 Bộ luật hình sự đều thuộc loại tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.[2] Theo đó, độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự đối với tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi là người từ đủ 14 tuổi.

Thứ ba, người có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ. Tức là người đó phải có cả năng lực nhận thức và năng lực điều khiển hành vi. Nếu người đó phạm tội trong trường hợp không có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc bị hạn chế năng lực hình sự thì có thể được loại trừ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 21 Bộ luật hình sự.

2.4. Mặt chủ quan của tội  phạm

Tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội nhận thức được hành vi mình làm là gì, biết trước được hậu quả sẽ xâm hại tình dục đối với người dưới 16 tuổi và mong muốn hậu quả đó xảy ra. Người phạm tội thực hiện hành vi này với mong muốn thỏa mãn nhu cầu sinh lý của mình và lựa chọn nạn nhân là người dưới 16 tuổi, còn non nớt, dễ bị dũ dỗ, khống chế, sau khi thực hiện xong hành vi cũng dễ dọa nạt, không cho nạn nhân tố giác mình.

3. Các trường hợp định khung hình phạt cụ thể

a) Có tính chất loạn luân

Theo Khoản 1 Điều 4 Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định tại các Điều 141, 142, 143, 144, 145, 146, 147 của Bộ luật Hình sự và việc xét xử vụ án xâm hại tình dực người dưới 18 tuổi quy định:

Có tính chất loạn luân là một trong các trường hợp sau đây:

- Phạm tội đối với người cùng dòng máu về trực hệ, với anh chị em cùng cha mẹ, anh chị em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha;

- Phạm tội đối với cô ruột, dì ruột, chú ruột, bác ruột, cậu ruột, cháu ruột;

- Phạm tội đối với con nuôi, bố nuôi, mẹ nuôi;

- Phạm tội đối với con riêng của vợ, con riêng của chồng, bố dượng, mẹ kế;

- Phạm tội đối với con dâu, bố chồng, mẹ vợ, con rể.

Căn cứ quy định trên, ta hiểu hiếp dâm người dưới 16 tuổi có tính chất loạn luôn là trường hợp nạn nhân bị hiếp dâm bởi 1 trong các đối tượng sau:

- Người cùng dòng máu về trực hệ (ông bà, cha mẹ, anh chị em ruột); anh chị em cùng cha mẹ, anh chị em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha;

- Cô ruột, dì ruột, chú ruột, bác ruột, cậu ruột, cháu ruột;

- Bố nuôi, mẹ nuôi;

- Bố dượng, mẹ kế;

b) Làm nạn nhân có thai.

Hiếp dâm người dưới 16 tuổi mà làm nạn nhân có thai là do hành vi hiếp dâm của người phạm tội mà nạn nhân có thai, tức là cái thai của nạn nhân là kết quả của việc giao cấu giữa người phạm tội với nạn nhân. Nếu nạn nhân tuy có bị hiếp dâm nhưng việc nạn nhân có thai lại là kết quả của việc giao cấu giữa nạn nhân với người khác thì người phạm tội hiếp dâm không phải chịu tình tiết “làm nạn nhân có thai”.

c) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% trở lên.

Căn cứ để đánh giá mức độ thương tích, mức độ rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân là kết quả giám định pháp y theo quy định tại Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần.

Đây là trường hợp người phạm tội không chỉ thực hiện hành vi hiếp dâm mà còn tàn nhẫn, hành hạ người dưới 16 tuổi gây tổn thương đáng kể về thể xác, tinh thần của người dưới 16 tuổi.

d) Đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh.

Người phạm tội và người bị hại trong trường hợp này phải có mối quan hệ, trong đó người phạm tội có nghĩa vụ đối với người bị hại. Nghĩa vụ này xuất phát từ quan hệ huyết thống như bố mẹ đối với con cái, quan hệ giáo dục như thầy giáo đối với học sinh, quan hệ chữa bệnh như thầy thuốc đối với bệnh nhân,...

đ) Phạm tội 02 lần trở lên.

Theo Khoản 2 Điều 4 Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định tại các Điều 141, 142, 143, 144, 145, 146, 147 của Bộ luật Hình sự và việc xét xử vụ án xâm hại tình dực người dưới 18 tuổi quy định:

Phạm tội 02 lần trở lên là trường hợp người phạm tội đã thực hiện hành vi phạm tội từ 02 lần trở lên nhưng chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.

e) Đối với 02 người trở lên

Đây là trường hợp người phạm tội cùng lúc thực hiện hiếp dâm đối với 02 người dưới 16 tuổi trở lên. Nếu người phạm tội thực hiện hành vi hiếp dâm từ 02 người trở lên nhưng trong đó chỉ có 1 người là người dưới 16 tuổi còn 1 người trên 16 tuổi thì người đó sẽ không phải chịu trách nhiệm về tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi đối với 02 người trở lên nhưng vẫn phải chịu trách nhiệm về tội hiếp dâm theo quy định của Khoản 1 Điều 142 Bộ luật Hình sự.

g) Tái phạm nguy hiểm.

Tái phạm nguy hiểm là trường hợp đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý hoặc đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý. Tái phạm là trường hợp đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý hoặc thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do vô ý.

Như vậy hiếp dâm người dưới 16 tuổi trong trường hợp tái phạm nguy hiểm là trường trước đây họ đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng (không phải tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi) do cố ý, chưa được xóa án tích mà đã hiếp dâm người dưới 16 tuổi hoặc trước đây họ đã bị kết án về tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi, chưa được xóa án tích mà nay lại tiếp tục hiếp dâm người khác.

h) Có tổ chức.

Hiếp dâm có tổ chức cũng như trường hợp phạm tội có tổ chức khác. Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự cấu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm. Phạm tội có tổ chức bao gồm nhiều người cùng tham gia, trong đó có người tổ chức, người thực hành, người xúi dục, người giúp sức. Đối với tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi có tổ chức, có thể tất cả những người tham gia đều là người thực hành (đều có hành vi giao cấu với người bị hại) nhưng cũng có trường hợp có người không giao cấu với người bị hại nhưng vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội hiếp dâm.

i) Nhiều người hiếp một người.

Theo Khoản 3 Điều 4 Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định tại các Điều 141, 142, 143, 144, 145, 146, 147 của Bộ luật Hình sự và việc xét xử vụ án xâm hại tình dực người dưới 18 tuổi quy định:

Nhiều người hiếp một người là trường hợp 02 người trở lên hiếp dâm 01 người. Cũng được coi là “nhiều người hiếp một người”, nếu có từ 02 người trở lên cùng bàn bạc, thống nhất sẽ thay nhau hiếp dâm 01 người, nhưng vì lý do ngoài ý muốn mới có 01 người thực hiện được hành vi hiếp dâm. Không coi là “nhiều người hiếp một người”, nếu có từ 02 người trở lên câu kết với nhau tổ chức, giúp sức cho 01 người hiếp dâm (trường hợp này là đồng phạm).

k) Đối với người dưới 10 tuổi.

Trường hợp hiếp dâm trẻ em dưới 10 tuổi được luật pháp quy định như là một trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, không cần hội tụ đủ các yếu tố cấu thành tội hiếp dâm thông thường, người có hành vi giao cấu với trẻ em dưới 10 tuổi vẫn bị coi là phạm tội hiếp dâm. Trẻ em dưới 10 tuổi, cơ thể còn chưa phát triển đầy đủ, các em như một tờ giấy trắng, cần được bảo vệ, chăm sóc. Người phạm tội thực hiện hiếp dâm đối với trẻ em dưới 10 tuổi cần phải chịu trách nhiệm về tội nặng hơn đối với hiếp dâm người trên 10 tuổi hay với người trên 16 tuổi.

l) Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội.

Người phạm tội biết mình nhiễm HIV mà vẫn hiếp dâm, tức là cố ý lây truyền HIV cho người khác bằng hành vi hiếp dâm, làm cho tính chất và mức độ của hành vi hiếp dâm nguy hiểm hơn nhiều so với trường hợp hiếp dâm bình thường.

Khi áp dụng tình tiết này đối với người phạm tội cần chú ý một số điểm như sau:

Nếu có căn cứ cho rằng người phạm tội biết mình nhiễm HIV mà vẫn hiếp dâm thì mới áp dụng tình tiết này, nếu người phạm tội bị nhiễm HIV thật nhưng họ không biết, sau khi phạm tội cơ quan Y tế mới xét nghiệm thấy người phạm tội bị nhiễm HIV thì không áp dụng tình tiết này đối với người phạm tội. Chỉ cần xác định người phạm tội biết mình nhiễm HIV mà vẫn hiếp dâm là thuộc trường hợp phạm tội này rồi mà không cần phải xác định người bị hại có bị lây nhiễm HIV hay không.

m) Làm nạn nhân chết hoặc tự sát.

Trường hợp làm nạn nhân chết là trường hợp nạn nhân dưới 16 tuổi do bị hiếp dâm mà chết, nếu nạn nhân bị chết không phải là do bị hiếp mà do nguyên nhân khác thì không thuộc trường hợp phạm tội.

Nạn nhân tự sát là trường hợp bởi vì bị hiếp dâm, nạn nhân dưới 16 tuổi xấu hổ, tủi nhục, không còn mong muốn sống tiếp nên đã tự sát.

4. Hình phạt đối với người phạm tội hiếp dâm

Điều 142 Bộ luật Hình sự quy định 4 khung hình phạt đối với người phạm tội như sau:

- Khung hình phạt phạt tù từ 07 năm đến 15 năm đối với người dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi trái với ý muốn của họ hoặc giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người dưới 13 tuổi.

- Khung hình phạt phạt tù từ 12 năm đến 20 năm đối với người phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây: Có tính chất loạn luân; làm nạn nhân có thai; gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%; đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh; phạm tội 02 lần trở lên; đối với 02 người trở lên; tái phạm nguy hiểm.

- Khung hình phạt phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình đối với người phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây: Có tổ chức; nhiều người hiếp một người; đối với người dưới 10 tuổi; gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên; biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội; làm nạn nhân chết hoặc tự sát.

- Khung hình phạt bổ sung, người phạm tội có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

5. Vụ án thực tế xét xử về tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi

Bản án số 03/2021/HS-PT ngày 05/01/2021 “V/v xét xử bị cáo Phan Trọng H phạm tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi” của Tòa án Nhân dân tỉnh Nghệ An.[3]

Vào khoảng 20 giờ 35  phút  ngày  06/5/2020, Phan Trọng H điều khiển xe máy điện nhãn hiệu X-MEN, Biển kiểm soát MĐ-402.96 đi chơi. Khi đi đến khu vực ngã 3 thuộc xóm 3, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An, phát hiện thấy cháu Võ Thị T (sinh ngày 18/5/2007, trú tại xóm 3, xã T) đang đi xe đạp trên đường nên Phan Trọng H nảy sinh ý định muốn quan hệ tình dục với cháu T. Phan Trọng H nói dối cháu Võ Thị T là đi hái xoài tại khu vực K và đang có chị N ( là chị họ của cháu Võ Thị T) đang ở đó. Nghe thấy vậy, cháu Võ Thị T đồng ý nên về nhà cất xe đạp rồi ngồi lên xe máy điện để Phan Trọng H chở đi. Khi Phan Trọng H và cháu Võ Thị T đến khu vực K thì Phan Trọng H dừng xe lại, để xe bên đường rồi cả hai cùng đi bộ vào giữa khu vực mương nước. Thấy vậy, cháu Võ Thị T hỏi Phan Trọng H: "Chị N mô?". Phan Trọng H trả lời: "Chị N đang ở trong". Sau đó, cháu Võ Thị T và Phan Trọng H ngồi xuống bãi đất trống, mặt hướng về khe nước. Tại đây, Phan Trọng H dùng hai tay của mình kéo áo ngoài và áo trong của cháu Võ Thị T lên thì cháu Võ Thị T lấy tay giữ lại và nói: "Đừng. Về" ( Ý nói đừng làm như thế và bảo Phan Trọng H đi về). Thấy thế, Phan Trọng H liền dùng tay phải bịt miệng cháu Võ Thị T lại đồng thời dùng tay trái vòng qua người quật ngã cháu Võ Thị T xuống bãi đất. Lúc này, cháu Võ Thị T đang ở tư thế nằm ngửa nên Phan Trọng H ngồi lên bụng rồi dùng hai chân của mình giữ tay cháu Võ Thị T lại. Cháu Võ Thị T dãy dụa để thoát ra nhưng không được nên Phan Trọng H tiếp tục dùng hai tay của mình kéo áo ngoài và áo trong của cháu Võ Thị T lên đến tận cổ rồi dùng tay sờ vào vùng ngực của cháu Võ Thị T và nói: "Im mồm không tau giết". Ngay sau đó, Phan Trọng H ngồi lùi xuống khu vực phần chân của cháu Võ Thị T rồi dùng hai tay của mình cởi quần ngoài và quần lót của cháu Võ Thị T ra khỏi người và ném về phía sau lưng của mình. Tiếp đến, Phan Trọng H cởi quần lót và quần dài của mình ra khỏi người rồi để về phía bên phải của mình. Lúc này, Phan Trọng H bỏ dương vật của mình vào âm hộ của cháu Võ Thị T để giao cấu, đến khi muốn xuất tinh thì Phan Trọng H rút dương vật của mình ra và xuất tinh lên bụng của cháu Võ Thị T. Sau đó, cháu Võ Thị T và Phan Trọng H dậy mặc quần áo để đi về. Khi đi đến khu vực cổng chào thuộc xóm 3 thì Phan Trọng H dừng xe lại và nói cháu Võ Thị T xuống xe đi bộ về đồng thời nói với cháu Võ Thị T: "Về không được nói với người thứ ba biết. Nếu nói cho người thứ ba biết, tau giết". Nói xong, cháu Võ Thị T và Phan Trọng H đi về nhà của mình.

Tại bản kết luận giám định số 24/TTPY ngày 11/5/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Nghệ An kết luận: Trên cơ thể cháu Võ Thị T hiện tại không có dấu vết tổn thương; Màng trinh hình viền còn nguyên vẹn, chưa bị rách; Không phát hiện thấy tinh trùng trong dịch âm đạo.

Tại công văn số 101/TTPY ngày 26/5/2020 của Trung tâm Pháp y tỉnh Nghệ An trả lời về biện luận kết quả giám định thể hiện: Nguyên nhân màng trinh của cháu Võ Thị T vẫn còn nguyên vẹn, chưa bị rách do màng trinh của cháu Võ Thị T rộng, chun giãn tốt hoặc dương vật của Phan Trọng Hùng có kích thước vừa phải, không quá lớn nên màng trinh không bị rách.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 39/2020/HSST  ngày 25/8/2020 của Tòa  án nhân dân huyện T, tỉnh Nghệ An quyết định: xử phạt bị cáo Phan Trọng H 06 (sáu) năm tù về tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”.

Ngày 04/9/2020, ông  Võ  Xuân  N và bà Nguyễn Thị L (người đại diện hợp pháp của cháu Võ Thị T) làm đơn kháng cáo với nội dung đề nghị tăng hình phạt và tăng bồi thường dân sự. Cùng ngày, bị cáo Phan Trọng H kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.

Ngày 03/01/2021, ông N và bà L đã có đơn rút toàn bộ nội dung kháng cáo. Tòa án cấp phúc thẩm đã ra Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm nội dung kháng cáo của ông N, bà L.

Xét nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo của bị cáo, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:

Vụ án thuộc loại rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo Phan Trọng H là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người. Đặc biệt đối tượng bị H xâm hại tình dục là trẻ em đang ở độ tuổi còn rất nhỏ; gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và sự phát triển bình thường của trẻ em; làm ảnh hưởng xấu đến truyền thống đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc và nếp sống văn minh trong xã hội; làm mất trật tự trị an xã hội, gây tâm lý hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân. Do đó không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo.

Đối với kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xét thấy:

Bị cáo có nhân thân tốt; lần đầu phạm tội;khi phạm tội đang ở lứa tuổi vị thành niên nên nhận thức pháp luật hạn chế;quá trình điều tra, xét xử, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; đại diện hợp pháp của bị cáo đã tự nguyện bồi thường một phần thiệt hại cho bị hại.

Vì lẽ đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm quyết định xử phạt bị cáo Phan Trọng H 03 năm 06 tháng (42 tháng) tù về tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện thi hành án hoặc bị bắt thi hành án.

 Luật Hoàng Anh


[1] Bài viết: “Để không còn những vụ việc đau lòng”, báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, https://dangcongsan.vn/cung-ban-luan/de-khong-con-nhung-vu-viec-dau-long-578884.html, truy cập ngày 16/6/2021.

[2] Căn cứ theo Điều 9 Bộ luật Hình sự:

- Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 07 năm đến 15 năm tù;

- Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 15 năm đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.

[3] https://congbobanan.toaan.gov.vn/2ta708553t1cvn/chi-tiet-ban-an, truy cập ngày 16/06/2021.

Tổng đài tư vấn pháp luật

0908 308 123
Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

0908 308 123

luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Tội phạm ma túy là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 15/06/2021

Tội phạm ma túy là hành vi gây nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, xâm phạm trật tự, an toàn xã hội, sức khỏe của con người

Tội tàng trữ trái phép chất ma túy là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 15/06/2021

Tội tàng trữ trái phép chất ma túy được quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 bao gồm bốn yếu tố cấu thành là mặt khách quan, mặt chủ quan, khách thể và chủ thể của tội phạm

Tội chiếm đoạt chất ma túy là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 16/06/2021

Tội chiếm đoạt chất ma túy được quy định tại Điều 252 Bộ luật Hình sự năm 2015 gồm bốn yếu tố cấu thành tội phạm là mặt chủ quan, mặt khác quan, khách thể và chủ thể của tội phạm

Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 20/06/2021

Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi quy định tại điều 144 BLHS