Tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người là gì?

Hành vi mua bán, chiếm đoạt mô, bộ phận cơ thể người khác xảy ra vô cùng phổ biến hiện này. Hành vi này tuy không gây chết người nhưng gây hại rất lớn đối với sức khỏe người bị lấy mô, bộ phận cơ thể. Chư kể nhiều đối tượng sẽ lợi dụng sự khó khăn về kinh tế mà ép buộc người khác phải hiến mô, bộ phận cơ thể gây bất ổn tình hình trị an, an toàn xã hội. Do đó, pháp luật hình sự đưa ra một điều khoản riêng quy định về tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người.

1. Căn cứ pháp lý

Điều 154 Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 ngày 27/11/2015 ngày 27/11/2015 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 12/2017/QH14 ngày 26/06/2017 (sau đây gọi tắt là Bộ luật hình sự) quy định Tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người như sau:

Điều 154. Tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người

1. Người nào mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người khác, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Có tổ chức;

b) Vì mục đích thương mại;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn, nghề nghiệp;

d) Đối với từ 02 người đến 05 người;

đ) Phạm tội 02 lần trở lên;

e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Có tính chất chuyên nghiệp;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

c) Đối với 06 người trở lên;

d) Gây chết người;

đ) Tái phạm nguy hiểm.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”

2. Dấu hiệu pháp lý của Tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người

2.1. Khách thể của tội phạm

Mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người là hành vi lấy đi bộ phận của cơ thể người còn sống trái pháp luật.

Tội phạm xâm phạm trực tiếp đến tính mạng, thân thể, sức khỏe của người khác, tội phạm còn gián tiếp gây tâm lý hoang mang cho người dân, gây bức xúc trong xã hội.

Do đó, khách thể của tội phạm là quyền sống, quyền được Nhà nước bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người và sự ổn định của xã hội.

2.2. Mặt khách quan của tội phạm

Hành vi thuộc mặt khách quan của tội phạm gồm 02 hành vi là hành vi mua bán và hành vi chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người.

Mua bán mô, bộ phận cơ thể người là hành vi trao đổi mô, bộ phận cơ thể người để nhận được tiền bạc, tài sản hay các lợi ích khác, bên bán có trách nhiệm chuyển giao mô, bộ phận cơ thể theo yêu cầu của bên mua, còn bên mua sẽ tiếp nhận mô, bộ phận cơ thể từ bên bán và có nghĩa vụ chi trả tiền, tài sản hoặc lợi ích khác khi bên bán giao đúng mô, bộ phận cơ thể mà bên mua yêu cầu.

Chiếm đoạt mô, bộ phận cơ thể người hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác chiếm giữ hoặc giao cho người khác chiếm giữ mô, bộ phận cơ thể người.

Điều 3 Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác số 76/2006/QH11 ngày 29/11/2006 quy định:

là tập hợp các tế bào cùng một loại hay nhiều loại khác nhau để thực hiện các chức năng nhất định của cơ thể người.

Bộ phận cơ thể người là một phần của cơ thể được hình thành từ nhiều loại mô khác nhau để thực hiện các chức năng sinh lý nhất định.

Việc lấy mô, bộ phận cơ thể người phải tuân thủ theo quy định của Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác số 76/2006/QH11 ngày 29/11/2006, các hành vi mua bán, chiếm đoạt mô, bộ phận cơ thể người không theo quy định của Luật này đều phạm tội theo Điều 154 Bộ luật Hình sự.

Nạn nhân bị lấy mô, bộ phận cơ thể phải là người đang sống, việc lấy mô, bộ phận cơ thể có thể gây chết người nhưng cũng có thể không gây chết người.

Tội phạm hoàn thành khi có hành vi mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người khác. Dấu hiệu hậu quả không phải dấu hiệu bắt buộc, dù người phạm tội có mua bán, chiếm đoạt mô, bộ phận cơ thể thành công hay chưa thì tội phạm cũng sẽ hoàn thành khi có hành vi mua bán, chiếm đoạt mô, bộ phận cơ thể xảy ra. Dấu hiệu mô, bộ phận cơ thể chỉ có ý nghĩa xác định hình phạt.

2.3. Chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội mua bán mô hoặc bộ phận cơ thể người là bất kì ai có năng lực trách nhiệm hình sự từ 16 tuổi trở lên.

Thứ nhất, chủ thể của tội phạm có thể là bất kỳ ai, có thể thực hiện hành vi phạm tội một mình nhưng cũng có thể là phạm tội có tổ chức. Các đồng phạm có thể cùng thực hiện hành vi mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người (cùng là người thực hành) nhưng cũng có thể do 1 người thực hành còn các đồng phạm còn lại giữ vai trò tổ chức, xúi giục hoặc giúp sức.

Thứ hai, theo Khoản 1 Điều 16 Bộ luật Hình sự, người từ đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm về mọi loại tội phạm, Khoản 2 Điều này quy định một số tội phạm mà người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng. Khoản 2 Điều 16 đã liệt kê các tội phạm mà người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự nhưng không bao gồm tội phạm mua bán, chiếm đoạt mô, bộ phận cơ thể người. Do vậy, độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự đối với tội mua bán, chiếm đoạt mô, bộ phận cơ thể người là người từ đủ 16 tuổi.

Thứ ba, chủ thể của tội phạm phải là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự bao gồm năng lực nhận thức và năng lực làm chủ hành vi của mình.

2.4. Mặt chủ quan của tội phạm

Chủ thể thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội hoàn toàn nhận thức rõ được hậu quả xâm hại đến sức khỏe, thân thể của nạn nhân, coi mô, bộ phận cơ thể nạn nhân là công cụ để kiếm lời hoặc vì mục đích khác và hoàn toàn mong muốn hậu quả xảy ra.

Mục đích chủ yếu của việc mua bán, chiếm đoạt mô, bộ phận cơ thể người là mục đích thương mại, mục đích cấy ghép, chữa bệnh cho người khác hoặc vì mục đích nghiên cứu khoa học,...

3. Các tình tiết định khung hình phạt cụ thể

a) Có tổ chức.

Có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ và phân công, sắp đặt vai trò của những người cùng thực hiện tội phạm.

b) Vì mục đích thương mại.

Người phạm tội thực hiện tội phạm vì mục đích kinh tế, coi mô, bộ phận cơ thể người là hành hóa để kiếm lời.

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn, nghề nghiệp.

Đây là trường hợp người phạm tội là người có chức vụ, quyền hạn nhất định theo luật định hoặc được các cơ quan, tổ chức bổ nhiệm, giao nhiệm vụ đã lợi dụng chức vụ quyền hạn hoặc nghề nghiệp của mình để mua bán, chiếm đoạt mô, bộ phận cơ thể người khác.

d) Đối với từ 02 người trở lên.

Đối với từ 02 người trở lên là trường hợp nạn nhân bị mua bán, chiếm đoạt mô, bộ phận cơ thể là từ 02 người trở lên. Trường hợp này, người phạm tội đã mua bán, chiếm đoạt mô, bộ phận cơ thể người trên diện rộng, ảnh hưởng đến nhiều người. Nhà làm luật cũng quy định nếu số nạn nhân từ 02 đến 05 người thì người phạm tội chịu trách nhiệm theo Khoản 2 Điều 154 Bộ luật Hình sự còn nếu số nạn nhân từ 06 người trở lên thì người phạm tội phải chịu trách nhiệm theo Khoản 03 Điều này.

đ) Phạm tội 02 lần trở lên.

Phạm tội 02 lần trở lên là trường hợp người phạm tội đã thực hiện hành vi phạm tội mua bán, chiếm đoạt mô, bộ phận cơ thể người khác từ 02 lần trở lên nhưng đều chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.

e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% trở lên.

Căn cứ để đánh giá mức độ thương tích, mức độ rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân là kết quả giám định pháp y theo quy định tại Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần.

f) Có tính chất chuyên nghiệp.

Có tính chất chuyên nghiệp là trường hợp người phạm tội thực hiện hành vi mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể con người từ 05 lần trở lên (không phân biệt đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chưa được xóa án tích) và người phạm tội lấy khoản lợi bất chính thu được từ việc mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể con người làm nguồn sống chính.

g) Gây chết người.

Gây chết người là trường hợp trong quá trình lấy mô, bộ phận cơ thể ra khỏi cơ thể nạn nhân đã gây chết người.

h) Tái phạm nguy hiểm.

Tái phạm nguy hiểm là trường hợp đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý hoặc đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý. Tái phạm là trường hợp đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý hoặc thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do vô ý.

Như vậy mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người trong trường hợp tái phạm nguy hiểm là trường hợp trước đây họ đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà đã vậy mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người hoặc trước đây họ đã bị kết án về tội vậy mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người, chưa được xóa án tích mà nay lại tiếp tục vậy mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người khác.

4. Hình phạt đối với người mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người.

Điều 154 Bộ luật Hình sự quy định 04 khung hình phạt đối với người phạm tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người như sau:

- Khung hình phạt phạt tù từ 03 năm đến 07 năm đối với người nào mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người khác, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.

- Khung hình phạt phạt tù từ 07 năm đến 15 năm khi người phạm tội thuộc một trong các trường hợp: Có tổ chức; Vì mục đích thương mại; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn, nghề nghiệp; Đối với từ 02 người đến 05 người; Phạm tội 02 lần trở lên; Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%.

- Khung hình phạt phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân khi người phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau: Có tính chất chuyên nghiệp; Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên; Đối với 06 người trở lên; Gây chết người; Tái phạm nguy hiểm.

- Khung hình phạt bổ sung, người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

5. Vụ án thực tế xét xử về tội mua bán, chiếm đoạt mô, bộ phận cơ thể người

Bản án số 11/2019/HSST ngày 12/11/2019 “V/v xét xử bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội mua bán bộ phận cơ thể người” của Tòa án Quân sự khu vực Thủ đô Hà Nội.[1]

Khoảng tháng 3 năm 2018, tại Bệnh viện Quân y 103, T gặp Lý Thị Kim C (sinh năm 1988; trú tại: Ấp N, xã N, huyện P, thành phố Cần Thơ); qua nói chuyện, T biết C có nhu cầu bán thận và trước đó C đã thông qua người phụ nữ tên  P (không rõ nhân thân, địa chỉ) nhờ bán thận nhưng không thành công. T đồng ý giúp C tìm người mua thận của C; sau đó T đã tìm được chị Phạm Thị T1(trú tại: xã H, huyện H, tỉnh Nam Định) có chồng là anh Lại Văn Đ (sinh năm 1974, bị suy thận mãn tính đang điều trị tại Bệnh viện Quân y 103) cần ghép thận. T thỏa thuận với chị T1 giá một quả thận của C là 310.000.000 đồng; chị T1 đồng ý, sau đó đưa C đi làm các xét nghiệm và thủ tục hiến thận. Đến tháng 6/2018, sau khi C và anh Đ được phẫu thuật ghép thận thành công, chị T1 đã nhờ chị gái là chị Phạm Thị T2 (sinh năm: 1974, trú tại: xã H, huyện H, tỉnh Nam Định) đưa số tiền 310.000.000 đồng trực tiếp cho T tại căng tin Viện bỏng Lê Hữu Trác. T khai sau khi nhận được số tiền này, T đã đưa cho P để P trả cho C 250.000.000 đồng tiền bán thận còn T được P chia cho 15.000.000 đồng.

Đến khoảng 4 năm 2018, thông qua mạng xã hội Facebook, T biết được Nguyễn Văn H (sinh năm 1993; trú tại: Xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa) có nhu cầu bán thận. T thỏa thuận với H, giá một quả thận của H là 180.000.000 đồng.

Sau đó, T tìm gặp được bà Nguyễn Thị D (sinh năm 1969; trú tại: Xã A, huyện B, tỉnh Hà Nam) là mẹ của Nguyễn Thị Q (sinh năm 1992, bị viêm cầu thận mạn, suy thận giai đoạn cuối cần ghép thận, đang phải điều trị tại Bệnh viện Quân y 103). T thỏa thuận với bà D bán 01 quả thận của H để ghép cho Q với giá 280.000.000 đồng, bà D đồng ý và đưa H đi làm các xét nghiệm cùng các thủ tục với hình thức hiến tặng. Đến ngày 20/6/2018, H và Q đã được phẫu thuật ghép thận thành công. Sau đó, bà D đã trả cho T 200.000.000 đồng; T khai đã trả cho H 100.000.000 đồng và giữ lại 100.000.000 đồng; sau đó chia cho 02 đối tượng môi giới khác 40.000.000 đồng, T được hưởng lợi 60.000.000 đồng; còn 80.000.000 đồng H đã nhận trực tiếp từ bà D.

Khoảng tháng 10 năm 2018, T đã liên lạc với 06 người khác có nhu cầu bán thận đã đưa những người này về nhà trọ tại địa chỉ: Số X, đường N, phường N, quận L, Thành phố Hà Nội nuôi ăn, ở với mục đích tìm người thích hợp để ghép thận. Ngày 04/12/2018,  tổ công tác Công an phường Ngọc Lâm phối hợp với Đội Cảnh sát hình sự Công an quận Long Biên, Thành phố Hà Nội tiến hành kiểm tra nhà trọ tại địa chỉ: Số X, đường N, phường N, quận L, Thành phố Hà Nội phát hiện đối tượng T và những người trên liên quan đến việc mua bán thận.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Đức T khai nhận: Do đã từng hiến thận và được người nhận bồi dưỡng số tiền 250.000.000 đồng nên T nắm được quy trình, thủ tục hiến thận; đồng thời qua mạng xã hội T biết có một số người bệnh có nhu cầu mua thận để ghép và một số người khó khăn về kinh tế có nhu cầu bán thận. Do đó, T đã đứng ra mua bán để được hưởng tiền chênh lệch từ giá mua bán thận; trong khoảng thời gian từ tháng 5 đến tháng 6 năm 2018, T đã trực tiếp mua bán thận thành công cho Lý Thị Kim C và Nguyễn Văn H.

Biên bản làm việc do Cơ quan điều tra khu vực 1, các Tổ chức sự nghiệp, Bộ Quốc phòng lập hồi 14 giờ ngày 09/5/2019, xác định:

“... Quá trình làm việc,đại diện Khoa thận – lọc máu, Bệnh viện Quân Y 103 cung cấp:

- Trường hợp người hiến Lý Thị Kim C và người nhận Lại Văn Đ do bác sĩ Nguyễn Thị Thùy D tiếp nhận hồ sơ xin hiến thận;

- Trường hợp người hiến thận Nguyễn Văn H và người nhận Nguyễn Thị Q do bác sĩ Nguyễn Thị Thu H tiếp nhận hồ sơ xin hiến thận;

Các trường hợp trên đã được mổ để lấy thận tại Bệnh viện Quân y 103, các bác sĩ tiếp nhận đã thực hiện đúng, đầy đủ các thủ tục theo quy định.

Từ nội dung vụ án trên, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Do cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được người phụ nữ tên P và 02 đối tượng môi giới bán thận cùng T nên không có căn cứ để xử lý trách nhiệm đối với các đối tượng này. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Đối  với các  bác sỹ  Bệnh  viện  Quân  y  103 là  Nguyễn  Thị  Thùy  D, Nguyễn Thị Thu H đã thực hiện đúng quy định, trình tự thủ tục về việc cho, hiến thận.

Đối với hành vi mua thận của Nguyễn Thị D, Phạm Thị T, xét động cơ, mục đích của bà D và bà T1 mua thận là để cứu người thân trong gia đình, không phải mua đi bán lại vì mục đích vụ lợi. Vì vậy, các cơ quan tiến hành tố tụng không xem xét xử lý trách nhiệm đối với những hành vi này là có cơ sở.

Về việc Nguyễn Đức T đã có hành vi nuôi 06 người ăn ở là Lê Thị H, Bùi Đình H, Trương Ngọc T, Trần Thị Thanh H, Trần Minh T và Vũ Quang T với mục đích chờ người thích hợp để bán thận. Căn cứ vào khoản 2 Điều 14 Bộ luật Hình sự, tội mua bán, chiếm đoạt mô, bộ phận cơ thể người không phải chịu trách nhiệm về giai đoạn chuẩn bị phạm tội, các cơ quan tiến hành tố tụng không xử lý đối với hành vi này của Nguyễn Đức T là có cơ sở.

Chị Lý Thị Kim C, anh Nguyễn Văn H từ chối giám định và tự chịu trách nhiệm về sức khỏe của mình. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Căn cứ vào diễn biến của các tình tiết vụ án và các chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử thấy rằng, có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng tháng 6 năm 2018 Nguyễn Đức T đã 02 lần mua bán thận người khác, cụ thể:

Lần thứ nhất, Nguyễn Đức T đã thỏa thuận bán 01 quả thận của chị Lý Thị Kim C cho chị Phạm Thị T1với giá 310.000.000 đồng để chị T1 Ghép thận cho chồng là anh Lại Văn Đ; lần mua bán này T thu lời 60.000.000 đồng.

Lần thứ hai, Nguyễn Đức T thỏa thuận với anh Nguyễn Văn H về việc tìm người mua 01 quả thận của anh H với giá 180.000.000 đồng; sau đó T đã bán cho bà Nguyễn Thị D với giá 280.000.000 đồng để chị D ghép thận cho con là Nguyễn Thị Q; lần mua bán này T thu lời 100.000.000 đồng; tổng số tiền T thu lời từ 02 lần mua bán thận người khác là 160.000.000 đồng.

Vì vậy, hành vi của Nguyễn Đức T đã phạm vào tội “Mua bán bộ phận cơ thể người” theo quy định tại điểm d, đ khoản 2 Điều 154 Bộ luật Hình sự.

Tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng; hành vi trên của bị cáo không những đã xâm phạm đến khách thể được luật hình sự bảo vệ đó là quyền được bảo hộ về sức khỏe của con người mà còn gây mất trật tự xã hội trên địa bàn, làm ảnh hưởng xấu đến uy tín của đơn vị Quân đội là Bệnh viện Quân y 103.

Quá trình thực hiện hành vi phạm tội bằng hình thức lợi dụng những người có hoàn cảnh kinh tế khó khăn cần bán thận để có tiền và những người bị bệnh suy thận cần ghép thận, Nguyễn Đức T đã đứng ra mua bán thận để hưởng tiền chênh lệch; vì mục đích vụ lợi mà bị cáo đã coi thường pháp luật. Vì vậy, cần phải áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo.

Vì những lẽ trên, Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội: “Mua bán bộ phận cơ thể người”, xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T 08 (Tám) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ (05/12/2018).

 Luật Hoàng Anh

 

 

 


 

[1] https://congbobanan.toaan.gov.vn/2ta489734t1cvn/chi-tiet-ban-an, truy cập ngày 22/06/2021.

 

 

Tổng đài tư vấn pháp luật

0908 308 123
Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

0908 308 123

luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Tội lây truyền HIV cho người khác là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 19/06/2021

Tội lây truyền HIV cho người khác quy định tại Điều 148 BLHS

Phân biệt tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm với tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi như thế nào?

Hỏi đáp luật Hình Sự 19/06/2021

Tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm với tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi

Tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 19/06/2021

Tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm quy định tại Điều 147 BLHS

Phân biệt Tội mua bán người để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân và Tội mua bán, chiếm đoạt mô, bộ phận cơ thể người như thế nào?

Hỏi đáp luật Hình Sự 22/06/2021

Tội mua bán người để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân và Tội mua bán, chiếm đoạt mô, bộ phận cơ thể người