Tội mua bán người dưới 16 tuổi là gì?

Mua bán người là hành vi đem con người làm vật trao đổi để có được những lợi ích khác như tiền bạc, tình dục,... Thực thế đối tượng bị mua bán người chủ yếu là phụ nữ và trẻ em. Trẻ em là đối tượng được Nhà nước ưu tiên nhiều nhất không chỉ bởi trẻ em là nhóm yếu thế trong xã hội mà trẻ em còn là tương lai của đất nước. Để xử phạt những hành vi coi trẻ em là vật để trao đổi, mua bán thì pháp luật hình sự đã đặt ra quy định riêng về tội mua bán người dưới 16 tuổi.

1. Căn cứ pháp lý

Điều 151 Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 ngày 27/11/2015 ngày 27/11/2015 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 12/2017/QH14 ngày 26/06/2017 (sau đây gọi tắt là Bộ luật hình sự) quy định Tội mua bán người dưới 16 tuổi như sau:

Điều 151. Tội mua bán người dưới 16 tuổi

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm:

a) Chuyển giao hoặc tiếp nhận người dưới 16 tuổi để giao, nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác, trừ trường hợp vì mục đích nhân đạo;

b) Chuyển giao hoặc tiếp nhận người dưới 16 tuổi để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác;

c) Tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người dưới 16 tuổi để thực hiện hành vi quy định tại điểm a hoặc điểm b khoản này.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:

a) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

b) Lợi dụng hoạt động cho, nhận con nuôi để phạm tội;

c) Đối với từ 02 người đến 05 người;

d) Đối với người mà mình có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng;

đ) Đưa nạn nhân ra khỏi biên giới của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

e) Phạm tội 02 lần trở lên;

g) Vì động cơ đê hèn;

h) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%, nếu không thuộc trường hợp quy định tại điểm d khoản 3 Điều này.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 18 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

d) Đã lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;

đ) Làm nạn nhân chết hoặc tự sát;

e) Đối với 06 người trở lên;

g) Tái phạm nguy hiểm.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”

2. Dấu hiệu pháp lý tội mua bán người dưới 16 tuổi

2.1. Khách thể của tội phạm

Mua bán người dưới 16 tuổi là hành vi coi trẻ em như là một loại hàng để mua, bán, trao đổi kiếm lời.

Tội phạm xâm phạm thên thể, nhân phẩm, danh dự, quyền tự do của trẻ em. Do đó, khách thể của tội phạm là quyền tự do, nhân phẩm, danh dự, quyền được Nhà nước bảo hộ về thân thể, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của trẻ em, quyền được sống , phát triển trong môi trường lành mạnh của trẻ em và sự an toàn của toàn xã hội.

2.2. Mặt khách quan của tội phạm

Hành vi thuộc mặt khách quan của tội phạm mua bán người dưới 16 tuổi được pháp luật hình sự quy định bao gồm những hành vi sau đây:

- Chuyển giao hoặc tiếp nhận người dưới 16 tuổi để giao, nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác, trừ trường hợp vì mục đích nhân đạo;

- Chuyển giao hoặc tiếp nhận người dưới 16 tuổi để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác;

- Tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người dưới 16 tuổi để thực hiện hành vi quy định tại điểm a hoặc điểm b khoản này.

Để làm rõ thêm cho các hành vi mua bán người được quy định trong Điều 151 Bộ luật Hình sự, Điều 2 Nghị quyết số 02/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán hướng dẫn áp dụng điều 150 về tội mua bán người và điều 151 về tội mua bán người dưới 16 tuổi của Bộ luật Hình sự, có đưa ra một số giải thích chi tiết như sau:

Mua bán người dưới 16 tuổi là thực hiện một trong các hành vi sau đây:

a) Chuyển giao người dưới 16 tuổi để nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác, trừ trường hợp vì mục đích nhân đạo;

b) Tiếp nhận người dưới 16 tuổi để giao tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác, trừ trường hợp vì mục đích nhân đạo;

c) Chuyển giao người dưới 16 tuổi để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác;

d) Tiếp nhận người dưới 16 tuổi để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác;

đ) Tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người dưới 16 tuổi để thực hiện hành vi chuyển giao người theo hướng dẫn tại điểm a và điểm c khoản này.

Trong đó,

Mục đích nhân đạo ở đây là mục đích tốt đẹp, vì lợi ích của người dưới 16 tuổi, hầu hết là trường hợp cho nhận con nuôi theo quy định của pháp luật nuôi con nuôi. Những trường hợp tiếp nhận hoặc chuyển giao người dưới 16 tuổi vì mục đích nhân đạo sẽ không phạm tội mua bán người dưới 16 tuổi.

Thủ đoạn khác là các thủ đoạn như: bắt cóc; cho nạn nhân uống thuốc ngủ, thuốc gây mê, uống rượu, bia hoặc các chất kích thích mạnh khác làm nạn nhân lâm vào tình trạng mất khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi; đầu độc nạn nhân; lợi dụng việc môi giới hôn nhân, môi giới đưa người đi lao động ở nước ngoài; lợi dụng chức vụ, quyền hạn; lợi dụng tình thế bị lệ thuộc; lợi dụng tình thế dễ bị tổn thương hoặc tình trạng quẫn bách của nạn nhân (ví dụ: lợi dụng tình trạng nạn nhân có người thân bị bệnh hiểm nghèo cần tiền chữa trị ngay, nếu không sẽ nguy hiểm đến tính mạng) để thực hiện một trong các hành vi mua bán người đã nêu trên.

Về mục đích của hành vi mua bán người dưới 16 tuổi, ngoài mục đích kiếm lời về kinh tế, pháp luật còn quy định mục đích có lợi ích khác của người phạm tội.

Để bóc lột tình dục là trường hợp chuyển giao, tiếp nhận hoặc tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp nạn nhân nhằm chuyển giao cho người khác để thực hiện các hoạt động bóc lột tình dục (như tổ chức cho nạn nhân bán dâm, đưa nạn nhân đến các cơ sở chứa mại dâm để bán dâm, sử dụng nạn nhân để sản xuất ấn phẩm khiêu dâm, trình diễn khiêu dâm, làm nô lệ tình dục...) hoặc tiếp nhận nạn nhân để phục vụ nhu cầu tình dục của chính mình.

Để cưỡng bức lao động là việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc các thủ đoạn khác nhằm buộc nạn nhân lao động trái ý muốn của họ.

Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân là trường hợp chuyển giao, tiếp nhận hoặc tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp nạn nhân để chuyển giao nhằm lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân. Bộ phận cơ thể là một phần của cơ thể được hình thành từ nhiều loại mô khác nhau để thực hiện các chức năng sinh lý nhất định của con người. Ví dụ: Nguyễn Văn A đã chuyển giao Nguyễn Thị C cho Nguyễn Văn B để B lấy giác mạc của C (trên thực tế B chưa có hành vi lấy giác mạc của C).

Vì mục đích vô nhân đạo khác là sử dụng nạn nhân để làm thí nghiệm, buộc nạn nhân phải đi ăn xin hoặc sử dụng nạn nhân vào các mục đích tàn ác khác.

Hậu quả của hành vi mua bán người dưới 16 tuổi là người dưới 16 tuổi bị hại đã bị đem ra mua, bán. Nếu người phạm tội đã thực hiện hành vi tìm người, liên hệ nơi bán, thỏa thuận giá cả nhưng chưa thực hiện việc mua bán thì phạm tội chưa đạt, vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Nói cách khác, tội phạm hoàn thành khi hậu quả nạn nhân bị mua bán xảy ra, nếu hậu quả đó chưa xảy ra người phạm tội vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về trường hợp phạm tội chưa đạt.

Dấu hiệu độ tuổi của nạn nhân là dấu hiệu bắt buộc để cấu thành tội phạm này. Nếu nạn nhân dưới 16 tuổi, người phạm tội mới cấu thành tội mua bán người dưới 16 tuổi, nếu nạn nhân là người từ đủ 16 tuổi thì người phạm tội sẽ cấu thành tội phạm mua bán người theo Điều 150 Bộ luật Hình sự.

Điều 417 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 6 Thông tư liên tịch 06/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH quy định cách xác định tuổi của nạn nhân dưới 16 tuổi như sau:

Việc xác định tuổi của người bị hại dưới 16 tuổi căn cứ vào một trong các giấy tờ, tài liệu sau:

a) Giấy chứng sinh;

b) Giấy khai sinh;

c) Chứng minh nhân dân;

d) Thẻ căn cước công dân;

đ) Sổ hộ khẩu;

e) Hộ chiếu.

Trường hợp đã áp dụng các biện pháp hợp pháp mà vẫn không xác định được chính xác thì ngày, tháng, năm sinh của họ được xác định:

a) Trường hợp xác định được tháng nhưng không xác định được ngày thì lấy ngày cuối cùng của tháng đó làm ngày sinh.

b) Trường hợp xác định được quý nhưng không xác định được ngày, tháng thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong quý đó làm ngày, tháng sinh.

c) Trường hợp xác định được nửa của năm nhưng không xác định được ngày, tháng thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong nửa năm đó làm ngày, tháng sinh.

d) Trường hợp xác định được năm nhưng không xác định được ngày, tháng thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong năm đó làm ngày, tháng sinh.

Trường hợp không xác định được năm sinh thì phải tiến hành giám định để xác định tuổi.

2.3. Chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội mua bán người là bất kì người nào từ đủ 14 tuổi trở lên có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ.

Thứ nhất, chủ thể của tội phạm có thể là bất kì ai, là phụ nữ hoặc nam giới, là công dân Việt Nam, người nước ngoài hoặc người không quốc tịch. Chủ thể của tội phạm có thể là một cá nhân thực hiện hành vi một mình nhưng với tội phạm này thường là vụ án đồng phạm, phạm tội có tổ chức. Tội phạm này thường hoạt động theo tổ chức vô cũng nguy hiểm, trong đó chúng phân rõ người tổ chức, người chỉ huy, phân công nhiệm vụ; người thực hành chịu trách nhiệm thực hiện các hành vi mua bán người nêu trên; người xúi giục chịu trách nhiệm dụ dỗ lôi kéo người khác cùng tham gia vào tổ chức mua bán người và người giúp sức chịu trách nhiệm chuẩn bị vật chất và tinh thần để người thực hành yên tâm thực hiện tội  phạm.

Thứ hai, độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự đối với tội mua bán người là người từ đủ 14 tuổi trở lên theo quy định tại Khoản 2 Điều 12 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên trong thực tiễn xét xử tội phạm, tội phạm mua bán người thường được thực hiện bởi chủ thể là người đã thành niên (người từ đủ 18 tuổi trở lên).

Thứ ba, chủ thể của tội phạm là người có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ bao gồm năng lực nhận thức và năng lực làm chủ hành vi.

2.4. Mặt chủ quan của tội phạm

Tội mua bán người được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội hoàn toàn nhân thức được hậu quả xâm hại đến danh dự nhân phẩm, thậm chí là thân thể, tính mạng của nạn nhân, coi nạn nhân làm công cụ để kiếm lợi ích. Tuy nhận thức rõ hậu quả như vậy nhưng người phạm tội vẫn mong muốn thực hiện tội phạm, mong muốn để cho hậu quả đó xảy ra.

Trên đây là nội dung của tội phạm mua bán người dưới 16 tuổi. Ngoài việc xem xét hành vi nào là hành vi mua bán người dưới 16 tuổi, Điều 151 còn quy định hình phạt cụ thể đối với từng trường hợp phạm tội và sẽ được Luật Hoàng Anh phân tích trong bài viết sau.

Luật Hoàng Anh

Tổng đài tư vấn pháp luật

0908 308 123
Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

0908 308 123

luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Phân biệt Tội mua bán người để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân và Tội mua bán, chiếm đoạt mô, bộ phận cơ thể người như thế nào?

Hỏi đáp luật Hình Sự 22/06/2021

Tội mua bán người để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân và Tội mua bán, chiếm đoạt mô, bộ phận cơ thể người

Tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 22/06/2021

Tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người quy định tại Điều 154 BLHS

Hình phạt đối với tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 22/06/2021

Hình phạt đối với tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi quy định tại Điều 153 BLHS

Tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 22/06/2021

Tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi quy định tại Điều 153 BLHS