Tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình là gì?

Ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng là những người gần gũi, thân thiết nhất với mỗi con người. Theo phong tục của người Việt, đây là những người mà mỗi cá nhân có nghĩa vụ, trách nhiệm chăm sóc, yêu thương. Do đó, hành vi ngược đại hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng đều có thể phải chịu trách nhiệm hình sự.

1. Căn cứ pháp lý

Điều 185 thuộc Chương XV Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 ngày 27/11/2015 ngày 27/11/2015 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 12/2017/QH14 ngày 26/06/2017 (sau đây gọi tắt là Bộ luật hình sự) quy định tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình như sau:

“Điều 185. Tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình

1. Người nào đối xử tồi tệ hoặc có hành vi bạo lực xâm phạm thân thể ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình thuộc một trong những trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Thường xuyên làm cho nạn nhân bị đau đớn về thể xác, tinh thần;

b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:

a) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu;

b) Đối với người khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng hoặc người mắc bệnh hiểm nghèo.

2. Dấu hiệu pháp lý của tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình

2.1. Khách thể của tội phạm

Khách thể của tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình là quan hệ gia đình và các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ giữa ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng người phạm tội.

Quan hệ này được quy định tại Hiến pháp năm 2014:

“Điều 36.

2. Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình, bảo hộ quyền lợi của người mẹ và trẻ em.”

Để làm rõ hơn quy định trên, Luật Hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 ban hành ngày 19/06/2014 quy định ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng có quyền và nghĩa vụ yêu thương chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau. Nội dung này được quy định cụ thể trong 08 điều như sau:

Điều 68. Bảo vệ quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con

Điều 69. Nghĩa vụ và quyền của cha mẹ

Điều 70. Quyền và nghĩa vụ của con

Điều 78. Quyền, nghĩa vụ của cha nuôi, mẹ nuôi và con nuôi

Điều 79. Quyền, nghĩa vụ của cha dượng, mẹ kế và con riêng của vợ hoặc của chồng

Điều 80. Quyền, nghĩa vụ của con dâu, con rể, cha mẹ vợ, cha mẹ chồng

Điều 104. Quyền, nghĩa vụ của ông bà nội, ông bà ngoại và cháu

Điều 105. Quyền, nghĩa vụ của anh, chị, em

Đối tượng tác động của tội phạm này bao gồm: Ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng, con, cháu và người có công nuôi dưỡng mình.

Ông bà gồm cả ông bà nội, ông bà ngoại. Điều 104 Luật hôn nhân và gia đình, khi quy định về quan hệ ông bà với các cháu không quy định ông bà bên vợ hoặc bên chồng. Về quan hệ đạo đức, ông bà bên vợ cũng như ông bà bên chồng thì chồng hoặc vợ cũng phải tôn trọng, chăm sóc. Nhưng nghĩa vụ pháp lý và trách nhiệm hình sự đối với cháu rể hoặc cháu dâu thì lại là vấn đề khác. Cháu dâu, cháu rẻ chỉ có nghĩa vụ pháp lý khi mà họ vẫn đang trong thời kì hôn nhân còn nếu cháu dâu, cháu rể đã ly hôn với cháu trai cháu gái của ông bà thì giữa cháu dâu, cháu rể và ông bà bên cháu trai cháu gái không còn quan hệ gì nữa.

Cha mẹ bao gồm cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi, cha mẹ vợ, cha mẹ chồng. Tuy nhiên, đối với cha mẹ vợ hoặc cha mẹ chồng chỉ có thể là đối tượng của tội phạm này khi quan hệ hôn nhân vợ chồng vẫn còn tồn tại hoặc một trong hai người đã chết, nếu quan hệ hôn nhân chấm dứt do ly hôn và người vợ hoặc người chồng đã kết hôn với người khác thì cha mẹ vợ hoặc cha mẹ chồng cũ không còn là đối tượng tác động của tội phạm này nữa.

Con bao gồm con đẻ (con trong giá thú hoặc ngoài giá thú), con nuôi, con dâu, con rể, con riêng của vợ hoặc chồng chưa thành niên và đang sống chung với bố dượng hoặc mẹ kế.

Cháu bao gồm cháu nội hoặc cháu ngoại; cháu nuôi.

Người có công nuôi dưỡng mình là người có công nuôi dưỡng người có hành vi ngược đãi, hành hạ. Đối tượng này không phụ thuộc vào quan hệ huyết thống hoặc quan hệ hôn nhân, mà hoàn toàn phụ thuộc vào quan hệ nuôi dưỡng giữa người nuôi dưỡng với người được nuôi dưỡng.

2.2. Mặt khách quanc của tội phạm

Hành vi thuộc mặt khách quan của tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình có thể có một trong hai hành vi, đó là hành vi đối xử tồi tệ hoặc có hành vi bạo lực xâm phạm thân thể ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình hoặc cả hai hành vi này.

Ngược đãi ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình là hành vi đối xử một cách tàn nhẫn, trái với lẽ phải, với đạo đức của cháu đối với ông bà, của con đối với bố mẹ, của vợ đối với chồng hoặc của chồng đối với vợ, cha hoặc mẹ đối với con, người được nuôi dưỡng đối với người có công nuôi dưỡng mình.

Hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình là hành vi đối xử tàn ác của cháu đối với ông bà, của con đối với bố mẹ, của vợ đối với chồng hoặc của chồng đối với vợ, cha hoặc mẹ đối với con, người được nuôi dưỡng đối với người có công nuôi dưỡng mình.

Hành vi đối xử tồi tệ được thể hiện bằng không hành động như không cho người bị hại, ăn no, không cho mặc ấm, không thể tự do đi lại hay làm những điều không trái pháp luật mà người bị hại mong muốn hoặc có thể bằng hành động như chửi bới, làm cho tinh thần bị hại bị ảnh hưởng.

Hành vi bạo lực xâm phạm thân thể là hành vi hành động, xâm phạm trực tiếp đến thân thể người bị hại như đánh, đấm, nhốt,... người bị hại.

Thường xuyên làm cho nạn nhân bị đau đớn về thể xác, tinh thần. Thông thường, hành vi hành hạ, ngược đãi được lặp đi lặp lại và kéo dài vài ngày, vài tuần, thậm chí hàng tháng, hàng năm. Hành vi này không chỉ gây đau đớn về thể xác mà còn gây đau khổ về tinh thần cho người bị hành hạ, nếu hành vi này có gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người bị hành hạ, thì cũng chỉ là thương tích nhẹ chưa tới mức bị tuy cứu về tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo Điều 134 Bộ luật hình sự .

Đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm là trước đó đã có lần ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình đã bị xử phạt hành chính bằng một trong những hình thức xử phạt hành chính hoặc bằng một trong những hình thức xử lý hành chính khác theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính và theo Nghị định số 82/2020/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực...hôn nhân và gia đình... và chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính, nay lại có hành vi ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình. Nếu trước đó người phạm tội tuy có bị xử lý hành chính, nhưng về hành vi khác không phải là hành vi ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình thì cũng không cấu thành tội phạm này.

Hậu quả của hành vi ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình gây ra là những thiệt hại cho ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình như: tính mạng, sức khoẻ, do bị bệnh tật, do tự sát, hoặc những thiệt hại khác cho người bị hại như: phải bỏ học đi lang thang bị người khác rủ rê lôi kéo vào con đường tội phạm.

Hậu quả không phải dấu hiệu bắt buộc trong mọi trường hợp. Trường hợp người phạm tội đã bị xử phạt hành chính mà còn vi phạm, không cần biết hậu quả của tội phạm có xảy ra không, tội phạm hoàn thành khi hành vi ngược đãi, hành hạ nạn nhân xảy ra. Trường hợp nạn nhân bị ngược đãi trong một thời gian dài thì tỷ lệ thương tổn cơ thể hay thương tổn về tinh thần là những yếu tố để xác định nạn nhân có bị ngược đãi, hành hạ trong một thời gian dài hay không. Trong trường hợp này, hậu quả lại là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm.

2.3. Chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội là người thực hiện hành vi ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình nhưng không phải ai thực hiện hành vi này cũng là chủ thể của tội phạm, mà chỉ những người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo luật định mới là chủ thể của tội phạm.

Chủ thể của tội phạm phải là người từ đủ 16 tuổi trở lên vì tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình thuộc loại tội ít nghiêm trọng và nghiêm trọng. Theo Điều 12 Bộ luật Hình sự, người từ đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi loại tội còn người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng.

Chủ thể của tội phạm cũng phải có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự gồm năng lực nhận thức hoặc năng lực làm chủ hành vi. Trường hợp người phạm tội thực hiện hành vi khi không có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ có thể được xem xét loại trừ trách nhiệm hình sự theo Điều 21 Bộ luật Hình sự.

Đối với tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình, tuy không phải là chủ thể đặc biệt nhưng trong từng trường hợp cụ thể thì người phạm tội phải là người có quan hệ nhất định với người bị hại. Ví dụ: Chỉ người con của người bị hại mới là chủ thể của tội ngược đãi cha mẹ; chỉ người cháu (cháu nội hoặc cháu ngoại) của người bị hại mới là chủ thể của tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà; chỉ người vợ của người bị hại mới là chủ thể của tội ngược đãi hoặc hành hạ chồng; chỉ người chồng của người bị hại mới là chủ thể của tội ngược đãi hoặc hành hạ vợ...

2.4. Mặt chủ quan của tội phạm

Người phạm tội thực hiện hành vi ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình là do lỗi cố ý, có thể là cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếm. Tức là người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là hành vi ngược đãi, hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình.

Tuy nhiên, tội phạm là tội xâm phạm quan hệ gia đình, nên thực tế có nhiều trường hợp người phạm tội không nhận thức rõ hành vi của mình là hành vi ngược đãi, hành hạ người thân của mình, thậm chí một số bậc cha mẹ còn cho rằng đánh đập con cái là quyền của bố mẹ và đó là phương pháp dạy dỗ, giáo dục con cái. Cũng chính xuất phát từ tư tưởng lạc hậu này nên có những người con bị ngược đãi, hành hạ thậm tệ nhưng không dám tố cáo hành vi của cha mẹ, còn cha mẹ thì thản nhiên như không có chuyện gì xảy ra. Chiếu cố đến một thực trạng này và khi xã hội chưa phát triển cao, nên nhà làm luật quy định hành vi ngược đãi, hành hạ phải gây ra hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xâm phạm hành chính mà còn vi phạm mới là tội phạm.

3. Hình phạt đối với người phạm tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình

Điều 185 Bộ luật Hình sự quy định 02 khung hình phạt đối với người phạm tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình như sau:

- Khung hình phạt phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm đối với người nào đối xử tồi tệ hoặc có hành vi bạo lực xâm phạm thân thể ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình thuộc một trong những trường hợp sau:

a) Thường xuyên làm cho nạn nhân bị đau đớn về thể xác, tinh thần;

b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

- Khung hình phạt phạt tù từ 02 năm đến 05 năm đối với người phạm tội thuộc một trong các trường hợp:

a) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu;

b) Đối với người khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng hoặc người mắc bệnh hiểm nghèo.

Việc quy định này xuất phát từ chính sách bảo vệ nhóm người yếu thế trong xã hội của Nhà nước cũng như truyền thống đạo đức “kính già yêu trẻ”, “lá lành đùm lá rách” của dân tộc. Phụ nữ mà biết là có thai tức là khi thực hiện tội phạm, người phạm tội biết chắc nạn nhân là phụ nữ mang thai (dù nạn nhân mang thai thật hay do người phạm tội hiểu lầm) mà vẫn thực hiện hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe. Người ốm đau là người đang bị bệnh tật, có thể điều trị ở bệnh viện, cơ sở y tế tư nhân hoặc tại nhà riêng của họ. Người ở trong tình trạng không thể tự vệ được là người do bản thân họ bị hạn chế về khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi do bẩm sinh hoặc do những điều kiện khách quan đem lại, như người bị tâm thần, bị bại liệt, bị mù, bị điếc, bị câm, bị tàn tật …; người đang ngủ say, đang bị bệnh nặng; đang ở trong tình thế khó khăn không thể tự vệ được, v.v..

Luật Hoàng Anh

 

CAM KẾT DỊCH VỤ
  • Đồng hành cùng Thân chủ.
  • Phương án tốt, giải pháp hay.
  • Bảo mật - Uy tín - Tin cậy - Chi phí thấp - Hiệu quả cao.
  • Dịch vụ pháp lý tốt số 2 tại Việt Nam.
  • Cam kết HOÀN TIỀN nếu thực hiện dịch vụ không thành công.

Cảm ơn quý vị và các bạn đã tin tưởng Luật Hoàng Anh, nếu có thắc mắc muốn giải đáp hãy liên hệ ngay cho chúng tôi.

Tổng đài tư vấn pháp luật

Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Dịch vụ Luật Sư uy tín hàng đầu tại Hà Nội.

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

Email: luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Xóa án tích đối với pháp nhân thương mại là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 17/07/2021

Xóa án tích đối với pháp nhân thương mại quy định tại Điều 89 BLHS

Nguyên tắc trách nhiệm khởi tố và xử lý vụ án hình sự được hiểu như thế nào?

Hỏi đáp luật Hình Sự 17/07/2021

Bài viết trình bày về nguyên tắc trách nhiệm khởi tố và xử lý vụ án hình sự theo quy định của BLTTHS 2015.

So sánh tội trộm cắp tài sản và tội công nhiên chiếm đoạt tài sản?

Hỏi đáp luật Hình Sự 17/07/2021

Tội trộm cắp tài sản và tội công nhiên chiếm đoạt tài sản

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 17/07/2021

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều 74 BLHS