Tội phạm theo quy định của Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 được phân loại như thế nào?

Tội phạm tuy có chung khái niệm theo quy định tại điều 8 nhưng với mỗi tội phạm lại có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội khác nhau. Ngay việc thực hiện cùng một tội, mức độ thực hiện tội phạm của mỗi người phạm tội cũng sẽ khác nhau. Do đó, vấn đề phân hóa và cá thể hóa hình phạt được coi là nguyên tắc của Luật hình sự Việt Nam. Bộ luật hình sự hiện hành cũng đưa ra quy định phân loại tội phạm, hãy cùng tìm hiểu trong bài viết dưới đây.

1. Căn cứ pháp lý

Điều 9 Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 ngày 27/11/2015 ngày 27/11/2015 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 12/2017/QH14 ngày 26/06/2017 (sau đây gọi tắt là Bộ luật hình sự) quy định phân loại tội phạm như sau:

Điều 9. Phân loại tội phạm

1. Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội được quy định trong Bộ luật này, tội phạm được phân thành 04 loại sau đây:
a) Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm;

b) Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 03 năm tù đến 07 năm tù;

c) Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 07 năm tù đến 15 năm tù;

d) Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 15 năm tù đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.

2. Tội phạm do pháp nhân thương mại thực hiện được phân loại căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội theo quy định tại khoản 1 Điều này và quy định tương ứng đối với các tội phạm được quy định tại Điều 76 của Bộ luật này.”.

2. Phân loại tội phạm

Điều 9 BLHS 2015 phân loại tội phạm gồm 04 loại tội phạm đối với cá nhân và tội phạm do pháp nhân thương mại thực hiện.

Thứ nhất, loại tội phạm nhẹ nhất là tội ít nghiêm trọng. Điểu a khoản 1 điều 9 định nghĩa đây là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn. Khung hình phạt đối với tội phạm ít nghiêm trọng là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm.

Thứ hai, tội phạm nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn hơn tội phạm ít nghiêm trọng.  Khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội phạm nghiêm trọng là từ trên 03 năm đến 07 năm tù.

Thứ ba,  tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn. Đây là tội phạm rất nguy hiểm cho xã hội nên cần có biện pháp xử lý mạnh. Khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội phạm nghiêm trọng là từ trên 07 năm đến 15 năm tù.

Cuối cùng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Đây là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn. Khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 15 năm đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.

Sự phân hóa các loại tội phạm được thực hiện theo tính chất nghiêm trọng tăng dần và tương ứng với đó là loại hình phạt và mức khung hình phạt cũng tăng dần.

Phân loại tội phạm có ý nghĩa rất quan trọng trong việc quy định các nguyên tắc xử lý, quy định độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, thời hiệu thi hành bản án và các quy định khác về điều kiện áp dụng một số loại hình phạt hoặc biện pháp tư pháp,.. Phân loại tội phạm còn là cơ sở để cụ thể hóa trách nhiệm hình sự, quy định khung hình phạt, đảm bảo nguyên tắc cá thể hóa trách nhiệm hình sự và hình phạt. Ngoài ra, việc phân loại tội phạm còn có ý nghĩa đối với việc quy định một số chế định tạm giam, tạm giữ trong Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tại khoản 2 Điều 9 có quy định về phân loại tội phạm đối với pháp nhân thương mại. Trường hợp pháp nhân thương mại phạm tội không quy định hình phạt tù, chỉ có phạt tiền, đình chỉ hoạt động có thời hạn và đình chỉ hoạt động vĩnh viễn. Do đó, không chỉ căn cứ vào khung hình phạt mà còn căn cứ vào từng tội phạm cụ thể do pháp nhân thương mại thực hiện để phân chia tội phạm đối với pháp nhân phạm tội.

Luật Hoàng Anh

 

Tổng đài tư vấn pháp luật

0908 308 123
Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

0908 308 123

luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Hiệu lực về không gian của Bộ luật hình sự trên lãnh thổ Việt Nam được quy định như thế nào?

Hỏi đáp luật Hình Sự 28/06/2021

Hiệu lực về không gian của Bộ luật hình sự trên lãnh thổ Việt Nam quy định tại Điều 5 BLHS

Hiệu lực về không gian bên ngoài lãnh thổ Việt Nam của Bộ luật Hình sự là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 28/06/2021

Hiệu lực về không gian bên ngoài lãnh thổ Việt Nam của Bộ luật Hình sự quy định tại Điều 6 BLHS

Hiệu lực về thời gian của Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định như thế nào?

Hỏi đáp luật Hình Sự 28/06/2021

Hiệu lực về thời gian của Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định tại Điều 7 BLHS

Tội phạm là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 28/06/2021

Khái niệm tội phạm được quy định tại Điều 8 BLHS