Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt tiền chất vào việc sản xuất trái phép chất ma túy bị xử phạt như thế nào?

Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt tiền chất vào việc sản xuất trái phép chất ma túy và các khung hình phạt tại Điều 253, cụ thể như sau:

“Điều 253. Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy

1. Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 06 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

b) Tiền chất ở thể rắn có khối lượng từ 50 gam đến dưới 200 gam;

c) Tiền chất ở thể lỏng có thể tích từ 75 mililít đến dưới 300 mililít.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 năm đến 13 năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Tiền chất ở thể rắn có khối lượng từ 200 gam đến dưới 500 gam;

e) Tiền chất ở thể lỏng có thể tích từ 300 mililít đến dưới 750 mililít;

g) Sử dụng người dưới 16 tuổi vào việc phạm tội;

h) Vận chuyển, mua bán qua biên giới;

i) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 13 năm đến 20 năm:

a) Tiền chất ở thể rắn có khối lượng từ 500 gam đến dưới 1.200 gam;

b) Tiền chất ở thể lỏng có thể tích từ 750 mililít đến dưới 1.800 mililít.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Tiền chất ở thể rắn có khối lượng 1.200 gam trở lên;

b) Tiền chất ở thể lỏng có thể tích 1.800 mililít trở lên.

5. Trường hợp phạm tội có cả tiền chất ở thể rắn và tiền chất ở thể lỏng thì được quy đổi để làm căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự, với tỷ lệ 01 gam tiền chất ở thể rắn tương đương với 1,5 mililít tiền chất ở thể lỏng. Sau khi quy đổi, số lượng tiền chất thuộc khoản nào, thì người thực hiện hành vi phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản đó.

6. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

Bất kì cá nhân nào có hành vi phạm tội đều bị xử lí hình sự theo quy định của BLHS năm 2015 như sau:

Điều 253 quy định 4 khung hình phạt chính (khoản 1, khoản 2, khoản 3, khoản 4) và 1 khung hình phạt bổ sung (khoản 6) đối với tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt tiền chất vào việc sản xuất trái phép chất ma túy, cụ thể:

- Khoản 1: Quy định khung hình phạt tù từ 01 đến 06 năm đối với các trường hợp phạm tội sau:

+ Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này là trường hợp chủ thể thực hiện hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt tiền chất vào việc sản xuất trái phép chất ma túy chất ma túy sau khi đã bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng biện pháp xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà họ đã thực hiện trước đó. Hoặc chủ thể đã bị kết án về tội này chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

+ Các điểm b, c quy định về khối lượng, thể tích tiền chất ở thể lỏng và thể rắn mà người phạm tội có hành vi vi phạm.

- Khoản 2: Quy định hình phạt tù từ 06 năm đến 13 năm đối với các trường hợp phạm tội có một trong các tình tiết tăng nặng sau:

+ Có tổ chức: được hiểu là hành vi phạm tội được thực hiện bởi từ 02 người trở lên và có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm (Khoản 2 Điều 17 Bộ luật hình sự năm 2015 về phạm tội có tổ chức)

+ Phạm tội 02 lần trở lên nhưng chưa bị truy tố, xét xử trong các lần phạm tội

* Lưu ý: Nếu người phạm tội có hai lần trở lên thực hiện hành vi phạm tội, nhưng mỗi lần thực hiện hành vi khác nhau thì không coi là phạm tội nhiều lần.

Ví dụ: Một lần tàng trữ, một lần vận chuyển, một lần mua bán, một lần chiếm đoạt, tổng cộng là 4 lần phạm tội nhưng vì mỗi lần thực hiện một hành vi phạm tội khác nhau nên không coi là phạm tội nhiều lần, mà mỗi lần thực hiện hành vi phạm tội đó đã cấu thành tội độc lập và người phạm tội phải bị chịu trách nhiệm hình sự theo từng tội danh riêng và áp dụng Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 để tổng hợp hình phạt.

+ Lợi dụng chức vụ, quyền hạn: Là hành vi mà người phạm tội dựa vào sự thuận lợi do chức vụ mà mình đảm nhiệm tại cơ quan, tổ chức liên quan đến quản lý, nghiên cứu tiền chất để tiến hành các hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt tiền chất vào việc sản xuất trái phép chất ma túy

+ Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức: Là hành vi người phạm tội lợi dụng danh nghĩa cơ quan nhà nước, các tổ chức nơi họ làm hoặc công tác có chức năng quản lý, nghiên cứu tiền chất để tiến hành các hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt tiền chất vào việc sản xuất trái phép chất ma túy

+ Các điểm đ, e  quy định về khối lượng, thể tích tiền chất ở thể lỏng và thể rắn mà người phạm tội có hành vi vi phạm.

+ Sử dụng người dưới 16 tuổi vào việc phạm tội: theo quy định của pháp luật hình sự về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự tại Điều 12 BLHS năm 2015 thì người dưới 16 tuổi tham gia tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt tiền chất vào việc sản xuất trái phép chất ma túy thì không bị coi là phạm tội này. Chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người từ đủ 16 tuổi trở lên.

+ Vận chuyển, mua bán qua biên giới: là trường hợp hành vi vận chuyển, mua bán tiền chất vào việc sản xuất trái phép chất ma túy được thực hiện qua biên giới giữa Việt Nam và nước khác.

+ Tái phạm nguy hiểm là trường hợp người phạm tội đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại phạm tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt tiền chất vào việc sản xuất trái phép chất ma túy hoặc trường hợp người phạm tội đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện phạm tội này. (Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 về tái phạm, tái phạm nguy hiểm)

- Khoản 3: Quy định hình phạt tù từ 13 năm đến 20 năm đối với các trường hợp phạm tội với khối lượng, thể tích các tiền chất ở thể rắn và thể lỏng tại các điểm a, b Khoản này.

- Khoản 4: Quy định hình phạt tù từ 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình đối với các trường hợp phạm tội với khối lượng, thể tích các tiền chất tại các điểm a, b Khoản này

- Hình phạt bổ sung: khoản 6 Điều 253 quy định về hình phạt bổ sung có thể bị áp dụng thêm đối với người phạm tội là: phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Lưu ý: Nếu người phạm tội có hai lần trở lên thực hiện hành vi phạm tội, nhưng mỗi lần thực hiện hành vi khác nhau thì không coi là phạm tội nhiều lần. Ví dụ: Một lần sản xuất, một lần tàng trữ, một lần vận chuyển, một lần mua bán, tổng cộng là 4 lần phạm tội nhưng vì mỗi lần thực hiện một hành vi phạm tội khác nhau nên không coi là phạm tội nhiều lần, mà mối lần thực hiện hành vi phạm tội đó đã cấu thành tội độc lập và người phạm tội phải bị chịu trách nhiệm hình sự theo từng tội danh riêng và áp dụng Điều 50 Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt.

 truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 253 của BLHS 2015 khi các hành vi đó được thực hiện nhằm mục đích để sản xuất trái phép chất ma túy hoặc nhằm bán lại cho người khác để họ sản xuất trái phép chất ma túy. Trường hợp không chứng minh được mục đích nhằm sản xuất trái phép chất ma túy hoặc mục đích nhằm bán lại cho người khác để họ sản xuất trái phép chất ma túy thì không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 253 của BLHS mà tùy từng trường hợp cụ thể có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm khác theo quy định của BLHS.

- Các tiền chất do phạm tội mà có là để dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy, nếu người phạm tội tiến hành sản xuất trái phép chất ma túy từ các tiền chất này thì người phạm tội còn phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội sản xuất trái phép chất ma túy (Điều 248 BLHS năm 2015).

- Trong trường hợp tiền chất có trọng lượng dưới 50 gam (đối với tiền chất ở thể rắn) hoặc dưới 75 mililít (đối với tiền chất ở thể lỏng) thì không truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng phải bị xử lý hành chính.

Luật Hoàng Anh

 

 

 

 

 

Tổng đài tư vấn pháp luật

0908 308 123
Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

0908 308 123

luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 16/06/2021

Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma được quy định tại Điều 253 Bộ luật Hình sự năm 2015 bao gồm 4 yếu tố cấu thành tội phạm