Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và tội vô ý gây thiệt hại đến tài sản khác nhau như thế nào?

Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và tội vô ý gây thiệt hại đến tài sản đều được thực hiện với lỗi vô ý, mức độ nghiêm trọng của những tội này nhẹ hơn so với các tội phạm chiếm đoạt tài sản cùng thuộc chương XVII (Tội phạm sở hữu). Tuy nhiên, hai tội này vẫn có những sự khác biệt.

Nội dung

Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp

Tội vô ý gây thiệt hại đến tài sản

Căn cứ pháp lý

Điều 179 Bộ luật Hình sự

Điều 180 Bộ luật hính sự

Khách thể

Khách thể của tội phạm là quyền sở hữu tài sản của con người của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp.

Khách thể của tội phạm là quyền sở hữu tài sản của con người và các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ sở hữu của con người.

Mặt khách quan

Hành vi thuộc mặt khách quan của tội phạm là hành vi thiếu trách nhiệm mất mát, hư hỏng, lãng phí gây thiệt hại cho tài sản.

Thiếu trách nhiệm là hành vi của người có trách nhiệm (không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ) vi phạm các quy định về quản lý, sử dụng, bảo vệ tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp để mất mát, hư hỏng, lãng phí gây thiệt hại cho tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp. Những quy định đó có thể là quy định thuộc lĩnh vực kinh tế, tài chính, những quy định về ghi sổ, thu, chi, thanh toán,... hoặc là quy định về kỹ thuật như quy tắc bảo dưỡng, vận hành...sử dụng máy móc, trang thiết bị...

Mất mát tài sản là để cho tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp thoát khỏi sự kiểm soát, quản lý của người có trách nhiệm trực tiếp trong công tác quản lý tài sản của Nhà nước. Cũng được xem là mất mát nếu tài sản đó bị huỷ hoại mà không thể sử dụng lại được.

Hư hỏng tài sản là làm cho tài sản của Nhà nước bị thiệt hại, hỏng hóc mà muốn sử dụng, khai thác được thì phải đi sửa chữa.

Lãng phí tài sản là sử dụng, khai thác tài sản một cách tuỳ tiện, bừa bãi không tiết kiệm, không mang lại hiệu quả.

Đây là tội có cấu thành vật chất, vì vậy hành vi thiếu trách nhiệm để mất mát, hư hỏng, lãng phí nói trên chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu hậu quả của tội phạm xảy ra. Hậu quả của tội phạm là gây thiệt hại về tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp có giá trị từ 100.000.000 đồng trở lên, ngoài ra không còn thiệt hại nào khác. Thiệt hại về tài sản phải do chính hành vi thiếu trách nhiệm gây ra mới là hậu quả của tội phạm này, nếu thiệt hại đó không phải do hành vi thiếu trách nhiệm gây ra thì không được tính để xác định hậu quả của tội phạm này.

Hành vi gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản do người phạm tội thực hiện tương đối đa dạng, vừa hành động, vừa không hành động. Nếu chỉ xét về hành vi không xét đến yếu tố lỗi thì hành vi gây thiệt hại đến tài sản cũng tương tự như hành vi của tội huỷ hoại hoặc làm hư hỏng tài sản ( bị đốt cháy, bị mất, bị hư hỏng...)

Thông thường, người phạm tội vô ý gây thiệt hại đến tài sản đã vi phạm những thể lệ, những quy tắc sinh hoạt xã hội mà ai cũng biết và không xử sự như người phạm tội. Ví dụ: Trong khu vực trạm bán xăng, đã có biển báo cấm lửa, nhưng khi vào mua xăng, B vẫn hút thuốc lá, nhân viên bán xăng yêu cầu B tắt thuốc lá, thì B cầm điều thuốc lá đang cháy dở ném đi, nhưng không may lại trúng vào bình xăng đang bơm xăng xe của anh C làm  xe của anh C bốc cháy gây thiệt hại 60.000.000 đồng và gây bỏng nặng cho chị A có tỷ lệ thương tật 31%. Trong trường hợp này B không chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vô ý gây thiệt hại đến tài sản, mà còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vô ý gây thương tích cho sức khoẻ của người khác do vi phạm quy tắc hành chính quy định tại Điều 139 Bộ luật hình sự.

Hậu quả của tội phạm này là thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản, ngoài ra không có thiệt hại nào khác.

Thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản chính là giá trị tài có giá trị từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

Thiệt hại về tài sản phải do chính hành vi vô ý của người phạm tội gây ra mới là hậu quả của tội phạm này, nếu thiệt hại đó không phải do hành vi vô ý của người phạm tội gây ra thì không được tính để xác định hậu quả của tội phạm này.

Nếu ngoài thiệt hại về tài sản mà còn gây ra những thiệt hại khác như thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ của người khác thì cũng tuỳ trường hợp cụ thể mà người phạm tội còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vô ý làm chết người hoặc tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn đến sức khoẻ của người khác.

Chủ thể

Chủ thể của tội phạm là chủ thể đặc biệt, họ phải là người trực tiếp được giao nhiệm vụ quản lý tài sản và từ đủ 16 tuổi trở lên có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự.

Chủ thể của tội phạm là bất kì người nào từ đủ 16 tuổi trở lên có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự.

Mặt chủ quan

Tội phạm được thực hiện với lỗi vô ý, có thể là vô ý vì quá tự tin hoăc vô ý do cẩu thả.

Vô ý vì quá tự tin: Người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được.

Vô ý vì cẩu thả: Người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó.

Hình phạt

Điều 179 Bộ luật Hình sự quy định 04 khung hình phạt đối với người phạm tội như sau:

- Khung hình phạt phạt cảnh cáo hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm đối với người nào có nhiệm vụ trực tiếp trong công tác quản lý tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, vì thiếu trách nhiệm mà để mất mát, hư hỏng, lãng phí gây thiệt hại cho tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

- Khung hình phạt phạt tù từ 01 năm đến 05 năm đối với người phạm tội gây thiệt hại cho tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp trị giá từ 500.000.000 đồng đến dưới 2.000.000.000 đồng.

- Khung hình phạt phạt tù từ 05 năm đến 10 năm đối với người phạm tội gây thiệt hại cho tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp trị giá 2.000.000.000 đồng trở lên.

- Khung hình phạt bổ sung, người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Điều 180 Bộ luật Hình sự quy định 02 Khung hình phạt đối với người phạm tội như sau:

- Khung hình phạt phạt cảnh cáo hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm đối với người nào vô ý gây thiệt hại cho tài sản của người khác trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

- Khung hình phạt phạt cải tạo không giam giữ từ 02 năm đến 03 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm đối với người phạm tội gây thiệt hại cho tài sản của người khác trị giá 500.000.000 đồng trở lên.

Luật Hoàng Anh

CAM KẾT DỊCH VỤ
  • Đồng hành cùng Thân chủ.
  • Phương án tốt, giải pháp hay.
  • Bảo mật - Uy tín - Tin cậy - Chi phí thấp - Hiệu quả cao.
  • Dịch vụ pháp lý tốt số 2 tại Việt Nam.
  • Cam kết HOÀN TIỀN nếu thực hiện dịch vụ không thành công.

Cảm ơn quý vị và các bạn đã tin tưởng Luật Hoàng Anh, nếu có thắc mắc muốn giải đáp hãy liên hệ ngay cho chúng tôi.

Tổng đài tư vấn pháp luật

Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Dịch vụ Luật Sư uy tín hàng đầu tại Hà Nội.

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

Email: luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 20/07/2021

Bài viết trình bày về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên theo quy định của BLTTHS 2015.

Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 20/07/2021

Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản quy định tại Điều 178 BLHS

Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản và tội vô ý gây thiệt hại đến tài sản khác nhau như thế nào?

Hỏi đáp luật Hình Sự 20/07/2021

Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản và tội vô ý gây thiệt hại đến tài sản

Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 20/07/2021

Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp quy định tại Điều 179 BLHS