Tội vu khống là gì?

Việc bàn tán về một người nào đó  xảy ra rất phổ biến trong cuộc sống thường ngày của con người tuy nhiên có những trường hợp làm ảnh hưởng lớn đến danh dự, nhân phẩm của người khác. Trường hợp đó có thể bị xử lý hình sự về tội vu khống. Như vậy, trong bài viết dưới đây, Luật Hoàng Anh sẽ làm rõ nội dung của tội vu khống theo quy định của pháp luật hiện hành.

1. Căn cứ pháp lý

Điều 156 Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 ngày 27/11/2015 ngày 27/11/2015 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 12/2017/QH14 ngày 26/06/2017 (sau đây gọi tắt là Bộ luật hình sự) quy định Tội vu khống là một trong các tội tại Chương XIV như sau:

Điều 156. Tội vu khống

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

a) Bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác;

b) Bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Đối với 02 người trở lên;

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho mình;

đ) Đối với người đang thi hành công vụ;

e) Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

g) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

h) Vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

a) Vì động cơ đê hèn;

b) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

c) Làm nạn nhân tự sát.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”

2. Dấu hiệu pháp lý của tội vu khống

2.1. Khách thể của tội phạm

Vu khống là hành vi bịa đặt hoặc đưa tin một chuyện xấu xa, không có thật để làm mất danh dự, uy tín của người khác hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác.

Tội vu khống xâm phạm danh dự, nhân phẩm, quyền và lợi ích hợp pháp của con người.

Như vậy, khách thể của tội vu khống là quyền được Nhà nước bảo hộ về danh dự nhân phẩm của con người và các quyền và lợi ích hợp pháp của con người bị xâm hại.

2.2. Mặt khách quan của tội phạm

Hành vi thuộc mặt khách quan của tội phạm gồm 03 hành vi: Bịa đạt những điều không có thực; Loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt và Bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền.

Bịa đặt những điều không có thực

Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta gặp không biết bao nhiêu những điều man trá và khi phải nghe những điều người ta nói không đúng về mình thì chúng ta thường có một phản ứng lại và coi đó là vu khống, vu cáo, đồ bịa đặt và coi đó là hành vi xấu xa, đê tiện v.v.. Nhưng không phải bao giờ những hành vi đó đều coi là tội phạm hình sự mà nhiều trường hợp người nghe, người biết chỉ coi đó là hành vi mất đạo đức, nếu cần thì xử lý hành chính, có khi giữa người bị vu khống với người có hành vi bịa đặt gặp nhau thông cảm và họ lại quan hệ tốt với nhau như cũ. Tuy nhiên cũng có không ít trường hợp người phạm tội cố ý bịa đặt thông tin sai trái, xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm của người khác thậm chí gây tổn hại đến quyền và lợi ích của nạn nhân.

Bịa đặt là tự nghĩ ra một điều gì đó mà không có đối với người khác như: không tham ô thì bảo là tham ô, không quan hệ bất chính lại tố cáo là quan hệ bất chính, không nhận hối lộ lại tố cáo là nhận hối lộ, người đã tốt nghiệp đại học, đã bảo vệ luận văn thạc sĩ, tiến sĩ nhưng lại tố cáo họ là bằng giả v.v...

Loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt

Tuy người phạm tội không bịa đặt, nhưng lại loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt. Việc loan truyền này có thể bằng nhiều hình thức khác nhau như: sao chép làm nhiều bản gửi đi nhiều nơi, kể lại cho người khác nghe, đăng tin, bài trên các phương tiện thông tin đại chúng, đăng bài trên các trang mạng xã hội, v.v...

Người có hành vi loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt có thể biết điều đó do ai bịa đặt hoặc cũng có thể chỉ biết đó là bịa đặt còn ai bịa đặt thì không biết.

Người loan truyền phải biết rõ điều mình loan truyền là không có thực nếu họ còn bán tin bán nghi thì cũng chưa cấu thành tội vu khống.

Bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền

Đây là trường hợp tố cáo trước cơ quan có thẩm quyền về một tội phạm xảy ra và người thực hiện tội phạm hoàn toàn không có thực. Trong thực tế có nhiều trường hợp các cơ quan nhà nước nhận được tin báo về tội phạm và người phạm tội, sau khi xác minh thấy không có tội phạm xảy ra đã không khởi tố vụ án hình sự hoặc tuy đã khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can thậm chí đã truy tố ra trước Toà án và Toà án đã kết án người bị tố cáo, nhưng sau khi kiểm tra lại toàn bộ các tài liệu do cơ quan tiến hành tố tụng thu thập thì mới xác định tội phạm và người phạm tội bị tố cáo là không có thực, nhưng không phải vì thế mà cho rằng người đã tố cáo đã có hành vi vu khống mà phải căn cứ vào từng trường hợp cụ thể để xác định người tố cáo không đúng đó có phải là vu khống không.

Nhiều người sau khi được minh oan, đã yêu cầu các cơ quan nhà nước phải trừng trị kẻ đã tố cáo sai sự thật đã đẩy họ tới chỗ phải tù tội, nhưng cũng có người không yêu cầu gì.

Trong hoạt động tố tụng tình trạng người làm chứng man khai cũng không phải ít, nhưng để có thể truy cứu trách nhiệm hình sự họ về tội khai báo gian dối theo Điều 382 Bộ luật Hình sự thì lại không phải là dễ dàng. Người làm chứng khai man có thể đưa ra đủ lý do để biện bạch cho lời man khai của họ, để chứng minh là mình không cố ý.

Tất cả những hành vi bịa đặt, loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt hoặc tố cáo sai người phạm tội với cơ quan có thẩm quyền đều nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền lợi của người bị hại. Những thiệt hại này có thể có xảy ra hoặc cũng có thể chưa xảy ra.

Các hình thức vu khống như truyền miệng, viết bài, thơ ca hò vè, đơn tố giác, thư nặc danh... Trường hợp người đưa tin bịa đặt nhưng lầm tưởng những điều họ loan tin là có thật thì không phạm tội. Hậu quả xảy ra là nạn nhân bị mất uy tín, danh dự hoặc bị thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của họ.

Tội vu khống được coi là hoàn thành từ khi người phạm tội thực hiện hành vi loan truyền những điều bịa đặt cho người khác biết hoặc tố cáo với cơ quan Nhà nước về việc người khác phạm tội.

2.3. Chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội vu khống là bất kì ai có năng lực trách nhiệm hình sự từ 16 tuổi trở lên.

Thứ nhất, chủ thể của tội phạm có thể là bất kỳ ai, có thể thực hiện hành vi phạm tội một mình nhưng cũng có thể có nhiều người cùng phạm tội. Các đồng phạm có thể cùng thực hiện hành vi vu khống (cùng là người thực hành) nhưng cũng có thể do 1 người thực hành còn các đồng phạm còn lại giữ vai trò tổ chức, xúi giục hoặc giúp sức cho người thực hành thực hiện hành vi vu khống. Tuy nhiên trên thực tế chủ yếu người phạm tội này là cá nhân, do có thù oán riêng mà vu khống nạn nhân.

Thứ hai, theo Khoản 1 Điều 16 Bộ luật Hình sự, người từ đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm về mọi loại tội phạm, Khoản 2 Điều này quy định một số tội phạm mà người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng. Khoản 2 Điều 16 đã liệt kê các tội phạm mà người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự nhưng không bao gồm tội phạm vu khống. Do vậy, độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự đối với tội vu khống là người từ đủ 16 tuổi.

Thứ ba, chủ thể của tội phạm phải là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự bao gồm năng lực nhận thức và năng lực làm chủ hành vi của mình.

2.4. Mặt chủ quan của tội phạm

Chủ thể thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội hoàn toàn nhận thức rõ được hậu quả xâm hại danh dự nhân phẩm của nạn nhân, thậm chí xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của nạn nhân nhưng người phạm tội hoàn toàn mong muốn hậu quả xảy ra.

Động cơ phạm tội có thể do thù oán cá nhân, giữa người phạm tội và nạn nhân có thể từng xảy ra xích mích dẫn đến căm ghét nhau, người phạm tội chỉ mong muốn nạn nhân bị bêu xấu trước mặt mọi người. Trường hợp người phạm tội loan truyền thông tin sai sự thật nhưng họ không biết thông tin đó không đúng, vẫn nghĩ là đó là thông tin chính xác hoặc còn mơ hồ, phân vân xem thông tin đó đúng hay sai thì không phải chịu trách nhiệm về tội vu khống.

3. Hình phạt đối với tội vu khống người khác

Điều 156 Bộ luật Hình sự quy định 04 khung hình phạt áp dụng đối với người phạm tội vu khống như sau:

- Khung hình phạt phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm  đối với người nào thực hiện một trong các hành vi:

a) Bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác;

b) Bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền.

- Khung hình phạt phạt tù từ 01 năm đến 03 năm đối với người phạm tội thuộc một trong các trường hợp:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Đối với 02 người trở lên;

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho mình;

đ) Đối với người đang thi hành công vụ;

e) Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

g) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

h) Vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

- Khung hình phạt phạt tù từ 03 năm đến 07 năm khi người phạm tội thuộc một trong các trường hợp:

a) Vì động cơ đê hèn;

b) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

c) Làm nạn nhân tự sát.

- Khung hình phạt bổ sung, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

4. Các tình tiết định khung hình phạt cụ thể

a) Có tổ chức.

Cũng như trường hợp phạm tội có tổ chức khác, phạm tội vu khống có tổ chức là trường hợp có nhiều người tham gia, trong đó có người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy có người trực tiếp thực hiện tội phạm, có người xúi giục, hoặc giúp sức, nhưng tất cả đều chung một mục đích là làm thế nào để vu khống được người khác. Vu khống có tổ chức là trường hợp phạm tội nguy hiểm hơn trường hợp phạm tội không có tổ chức, vì phạm tội có tổ chức do có sự phân công, cấu kết chặt chẽ giữa những người thực hiện tội phạm nên chúng dễ dàng thực hiện việc vu khống và cũng dễ dàng che giấu hành vi phạm tội của mình.

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn.

Người có chức vụ là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện một công vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ.

Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để vu khống là hành vi vu khống do người có chức vụ, quyền hạn thực hiện và hành vi vu khống đó có liên quan trực tiếp đến chức vụ, quyền hạn của họ, nếu họ không có chức vụ, quyền hạn đó thì họ khó có thể thực hiện việc vu khống; chức vụ, quyền hạn là điều kiện thuận lợi để người phạm tội thực hiện việc vu khống một cách dễ dàng. Tuy nhiên, người phạm tội có việc lợi dụng chức vụ để vu khống thì mới bị coi là có tình tiết tăng nặng. Nếu tội phạm do họ thực hiện không liên quan gì đến chức vụ, quyền hạn của họ thì dù họ có chức vụ, quyền hạn thì cũng không bị coi là lợi dụng chức vụ, quyền hạn để vu khống.

c) Đối với 02 người trở lên.

Đối với từ 02 người trở lên là trường hợp nạn nhân làm nhục là từ 02 người trở lên. Trường hợp này, người phạm tội đã làm nhục nhiều người, cũng gây ảnh hưởng đến nhiều người.

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho mình.

Người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình bao gồm thầy cô, bố mẹ, ông bà, cha mẹ nuôi, anh chị em, cô dì chú bác, bác sĩ, y tá đã và đang chữa bệnh cho mình. Đây là những người mà đánh lý người phạm tội phải biết ơn thậm chí có nghĩa vụ chăm sóc lại nhưng lại thực hiện hành vi vu khống họ. Điều này không chỉ vi phạm pháp luật mà còn đi ngược thuần phong mỹ tục, đạo đức “uống nước nhớ nguồn” từ xưa đến nay của dân tộc.

đ) Đối với người đang thi hành công vụ.

Người thi hành công vụ là người được các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội giao cho một nhiệm vụ cụ thể và thực hiện nhiệm vụ đó, như cán bộ đi thu thuế, cảnh sát giao thông kiểm tra xe để đảm bảo an toàn giao thông v.v...

e) Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội.

Hiện nay, mạng internet là phương tiện truyền tải thông tin nhanh nhất. Những thông tin vu khống người khác khi bị đăng tải trên các trang mạng xã hội sẽ lan tràn nhanh chóng, khó kiểm soát cũng như ngăn chặn làm cho nhiều người càng biết và càng xâm phạm nặng nề đến nhân phẩm danh dự của nạn nhân.

g) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% trở lên.

Căn cứ để đánh giá mức độ thương tích, mức độ rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân là kết quả giám định pháp y theo quy định tại Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần.

h) Vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

Theo Điều 9 Bộ luật Hình sự quy định:

Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 07 năm đến 15 năm tù.

Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 15 năm đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.

i) Vì động cơ đê hèn.

Đây là trường hợp người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội để trả thù; phạm tội để trốn tránh trách nhiệm của bản thân; phạm tội đối với người mà mình mang ơn hoặc những hành vi phạm tội khác thể hiện sự bội bạc, phản trắc.

k) Làm nạn nhân tự sát.

Đây là trường hợp nạn nhân bị vu khống chịu sự tổn thương nặng nề, xấu hổ với mọi người xung quanh, chịu tủi nhục nên không muốn tiếp tục sống để phải chịu đựng ánh nhìn của mọi người xung quanh nên đã tự sát.

Nếu hành vi tự sát không xuất phát từ nguyên nhân nạn nhân bị người phạm tội vu khống nạn nhân mà xuất phát từ nguyên nhân khác thì người phạm tội không phải chịu tình tiết tăng nặng này.

5. Vụ án thực tế xét xử về tội vu khống

Bản án số 62/2021/HSST ngày 12/5/2021 “V/v xét xử bị cáo Vũ Vương H phạm tội vu khống” của Tòa án Nhân dân huyện Mường Ảng tỉnh Điện Biên.[1]

Do bực tức ông Phạm Ngọc H là chấp hành viên giữ chức vụ Trưởng chi cục thi hành án dân sự huyện MA là người đã thi hành Quyết định cưỡng chế nhà đất của bố mẹ bị cáo Vũ Vương H là ông Vũ Thế H và bà Trịnh Thị H tại tổ dân phố 7, thị trấn MA, huyện MA.

Ngày 17/11/2020, Vũ Vương H gửi đơn tố giác ông Phạm Ngọc H chiếm đoạt số tài sản đến Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng và đơn tố cáo đến một số cá nhân cơ quan huyện MA và huyện TG, Vũ Vương H tố cáo ông H gồm 03 nội dung chính:

Một là: Bị cáo Vũ Vương H tố cáo ông Phạm Ngọc H đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn cố ý thực hiện việc cưỡng chế thi hành án dân sự.

Quá trình cưỡng chế đã cất giữ tài sản không đúng nơi quy định làm thất thoát, chiếm đoạt tài  sản  của  gia  đình ông  H gồm:  02  lắc  bạc, 02  dây  chuyền  bạc,  số  tiền 750.000.000đ, 100 cây vàng loại 9999 và một số tài sản khác, tổng  giá  trị là 6.371.930.000đ.

Hai là: Bị cáo Vũ Vương H tố cáo ông Phạm Ngọc H tổ chức cưỡng chế thi hành án dân sự đối với thửa đất và tài sản trên đất tại TDP 7, thị trấn MA, huyện MA, tỉnh Điện Biên của gia đình bà Trịnh Thị H (mẹ ông H) trái quy định của pháp luật.

Ba là: Bị cáo H tố cáo ông H cố ý làm sai lệch hồ sơ, giả mạo chữ ký ở biên bản giao thông báo ngày 13/7/2017, giả mạo chữ ký và chữ viết của ông Vũ Thế H (bố bị cáo H).

Quá trình điều tra, xác minh cả ba nội dung tố giác, tố cáo nêu trên đều sai sự thật, về nội dung tố cáo ông H chiếm đoạt tài sản của gia đình là nội dung Vũ Vương H bịa đặt, vu khống ông Phạm Ngọc H, được giải quyết tại kết luận số 01/KL-CTHADS ngày 31/3/2020 của Chi cục trưởng Cục thi hành án dân sự tỉnh Điện Biên. Ngày 17/01/2021 Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Mường Ảng đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự; Ngày 25/01/2021 ra Quyết định khởi tố bị can đối với Vũ Vương H.

Xét tính chất vụ án là ít nghiêm trọng nhưng hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương, xâm phạm đến uy tín, danh dự của ông Phạm Ngọc H được pháp luật bảo vệ. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm bị cáo trước pháp luật mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về tình tiết định  khung  hình  phạt: Bị cáo Vũ Vương H tố cáo ông Phạm Ngọc H đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn cố ý thực hiện việc cưỡng chế thi hành án dân sự.

Quá trình cưỡng chế ông H đã cất giữ tài sản không đúng nơi quy định làm  thất  thoát, chiếm đoạt tài sản của gia đình bị cáo tổng  giá trị là 6.371.930.000đ để trong tủ nhôm và ngụy tạo làm sai lệch hồ sơ, giả mạo chữ ký, chữ viết. Bị cáo H đã sử dụng điện thoại có kết nối mạng viễn thông đăng nhiều nội dung, clip trên trang Facebook cá nhân của bị cáo Vũ Vương H và có những lời lẽ xúc phạm, mục đích làm hạ uy  tín,  danh  dự của ông H, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Vu khống” theo quy định tại Điểm e, h Khoản 2 Điều 156 Bộ luật Hình sự có khung hình phạt từ 01 năm đến 03 năm tù. Tuy nhiên bị cáo còn có những tình tiết giảm nhẹ theo Điều 51 Bộ luật Hình sự nên được xem xét xử phạt bị cáo một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt liền kề nhẹ hơn.

Vì những lý do trên, Tòa án Nhân dân huyện Mường Ảng tỉnh Điện Biên quyết định tuyên bố:  Bị cáo Vũ Vương H phạm tội: “Vu khống”, xử phạt: Vũ Vương H 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25 tháng 01 năm 2021.

Áp dụng Điểm b Khoản 1 Điều 46; Khoản 2 Điều 48 Bộ luật Hình sự, chấp nhận sự tự nguyện công khai xin lỗi của bị cáo H tới “Ông Cục trưởng Cục thi hành án dân sự tỉnh Điện Biên; Cục thi hành án dân sự tỉnh Điện Biên; Chi cục Thi hành án dân sự huyện MA, tỉnh Điện Biên và cá nhân ông H” trước Hội đồng xét xử; phát 03 lần trên Đài phát thanh truyền hình tỉnh Điện Biên; Đài phát thanh truyền hình huyện MA, tỉnh Điện Biên khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Luật Hoàng Anh

 

 

 

 

 

 

 

 

 


[1] https://congbobanan.toaan.gov.vn/2ta714030t1cvn/chi-tiet-ban-an, truy cập ngày 23/06/2021.

Tổng đài tư vấn pháp luật

0908 308 123
Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

0908 308 123

luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Phân biệt Tội mua bán người để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân và Tội mua bán, chiếm đoạt mô, bộ phận cơ thể người như thế nào?

Hỏi đáp luật Hình Sự 22/06/2021

Tội mua bán người để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân và Tội mua bán, chiếm đoạt mô, bộ phận cơ thể người

Hình phạt đối với tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 22/06/2021

Hình phạt đối với tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi quy định tại Điều 153 BLHS

Tội mua bán người dưới 16 tuổi là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 22/06/2021

Tội mua bán người dưới 16 tuổi quy định tại Điều 151 BLHS

Tội đánh tráo người dưới 01 tuổi là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 22/06/2021

Tội đánh tráo người dưới 01 tuổi quy định tại Điều 152 BLHS