Tội xâm phạm quyền hội họp, lập hội của công dân là gì?

Hội họp, lập hội nhóm là quyền cơ bản của công dân. Quyền này đã được quy định cụ thể tại Hiến pháp. Do đó người nào xâm phạm đến quyền hội hợp, lập hội của công dân đều bị xử lý theo quy định của pháp luật.

1. Căn cứ pháp lý

Điều 163 thuộc Chương XV Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 ngày 27/11/2015 ngày 27/11/2015 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 12/2017/QH14 ngày 26/06/2017 (sau đây gọi tắt là Bộ luật hình sự) quy định tội xâm phạm quyền hội họp, lập hội của công dân như sau:

Điều 163. Tội xâm phạm quyền hội họp, lập hội của công dân

1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác ngăn cản hoặc ép buộc người khác lập hội, hội họp hợp pháp, đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì phạt tù từ 01 năm đến 03 năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Phạm tội 02 lần trở lên;

d) Dẫn đến biểu tình;

đ) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”

2. Dấu hiệu pháp lý của tội xâm phạm quyền hội họp, lập hội của công dân

2.1. Khách thể của tội phạm

Trong các quyền tự do, dân chủ thì quyền hội họp, lập hội, là quyền cơ bản được Hiến pháp năm 2013 ghi nhận tại Điều 25 như sau:

Điều 25.

Công dân có quyền tự do ...  hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định.”

Và được quy định cụ thể trong Điều 1 Luật số 101/SL-L004 ngày 20 tháng 5 năm 1957 quy định quyền tự do hội họp.

Điều 1.

Quyền tự do hội họp của nhân dân được tôn trọng và bảo đảm. Không ai được xâm phạm đến quyền tự do hội họp.”

Tội phạm xâm phạm quyền hội họp, lập hội của công dân, và quy định của pháp luật liên quan đến quyền tự do hội họp của công dân.

Như vậy khách thể của tội phạm là quyền tự do của của con người, quyền tự do, dân chủ của công dân và các quy phạm pháp luật quy định về quyền hội họp, lập nhóm của công dân.

2.2. Mặt khách quan của tội phạm

Mặt khách quan của tội phạm thể hiện ở hành vi nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác ngăn cản hoặc ép buộc người khác lập hội, hội họp hợp pháp.

Trong đó,

Dùng vũ lực

Hành vi dùng vũ lực trong tội xâm phạm quyền hội họp, lập hội của công dân cũng tương tự với hành vi dùng vũ lực ở một số tội phạm khác mà người phạm tội có dùng vũ lực, nhưng ở tội xâm phạm quyền hội họp, lập hội của công dân, hành vi dùng vũ lực là nhằm ngăn cản hoặc ép buộc người khác lập hội, hội họp hợp pháp. Hành vi này, thông thường là làm thế nào để buộc nạn nhân phải lập hội, hội họp hợp pháp: đánh, đấm, trói,... Những hành vi này chủ yếu làm tê liệt sự kháng cự của người bị hại để người phạm tội  thực hiện được việc ngăn cản hoặc ép buộc nạn nhân lập hội, hội họp hợp pháp.

Đe doạ dùng vũ lực

Đe doạ dùng vũ lực là hành vi của một người dùng lời nói hoặc hành động uy hiếp tinh thần của người khác, làm cho người bị đe dọa sợ hãi như: doạ giết, dọa đánh, dọa bắn... làm cho người bị hại sợ dẫn đến không thể lập hội, hội họp hay phải lập hội, tham gia hội họp trái mong muốn của mình. Người phạm tội có thể đe dọa dùng vũ lực trực tiếp với nạn nhân như dọa giết nạn nhân,... nhưng cũng có thể đe dọa sẽ dùng vũ lực với người thân thích, người mà nạn nhân quan tâm như đe dọa sẽ giết con gái của nạn nhân nếu nạn nhân ko làm theo ý muốn của người phạm tội,...

Việc lập hội, hội họp phải hợp pháp

Theo Luật số 101/SL-L004 ngày 20 tháng 5 năm 1957 quy định quyền tự do hội họp quy định các trường hợp lập nhóm, hội họp không phải xin phép trước:

- Các cuộc hội họp có tính chất gia đình, giữa thân thuộc, bè bạn;

- Các buổi sinh hoạt của các hội hợp pháp, tổ chức trong trụ sở của hội, các cuộc hành lễ thường lệ của các tôn giáo tổ chức trong những nơi thờ cúng;

- Các buổi sinh hoạt của các đoàn thể trong Mặt trận dân tộc thống nhất, và các cuộc hội họp công cộng do các đoàn thể này tổ chức.

Ngoài những trường hợp nêu trên, các cuộc hội họp, lập nhóm đều phải được sự cho phép của Uỷ ban hành chính địa phương.

Trường hợp lập hội, hội nhóm bất hợp pháp là trường hợp người phạm tội lợi dụng quyền tự do hội họp để hoạt động trái pháp luật, chống lại chế độ, chống lại chính quyền dân chủ nhân dân, chia rẽ dân tộc, phá tình hữu nghị giữa nhân dân ta với nhân dân các nước, tuyên truyền chiến tranh, âm mưu phá hoại sự nghiệp đấu tranh cho hoà bình thống nhất, độc lập, dân chủ, hành động có phương hại đến trật tự an ninh chung, hoặc đến thuần phong mỹ tục.

Đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt vi phạm hành chính

Đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm là  trước đó đã có lần xâm phạm quyền hội họp, quyền lập hội, đã bị xử lý bằng một trong những hình thức kỷ luật theo quy định của Nhà nước hoặc theo quy định trong Điều lệ của tổ chức và chưa hết thời hạn được xoá kỷ luật, nay lại có hành vi xâm phạm quyền hội họp, quyền lập hội của công dân. Nếu trước đó người phạm tội tuy có bị xử lý kỷ luật, nhưng về hành vi khác không phải là hành vi xâm phạm quyền hội họp, quyền lập hội của công dân thì cũng không cấu thành tội phạm này.

Đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm là trước đó đã có lần xâm phạm quyền hội họp, quyền lập hội của công dân, đã bị xử phạt hành chính bằng một trong những hình thức xử phạt hành chính hoặc bằng một trong những hình thức xử lý hành chính khác theo quy định của Luật Xử phạt vi phạm hành chính và chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính, nay lại có hành vi xâm phạm quyền hội họp, quyền lập hội của công dân. Nếu trước đó người phạm tội tuy có bị xử lý hành chính, nhưng về hành vi khác không phải là hành vi xâm phạm quyền hội họp, quyền lập hội của công dân thì cũng không cấu thành tội phạm này.

2.3. Chủ thể của tội phạm

Cũng như chủ thể của các tội phạm khác, chủ thể của tội xâm phạm quyền hội họp, lập hội của công dân cũng phải đảm bảo các  điều kiện cần và đủ như: độ tuổi, năng lực trách nhiệm hình sự.

Chủ thể của tội phạm này là bất kỳ, có thể là cá nhân phạm tội nhưng cũng có thể là vụ án đồng phạm. Trong trường hợp là vụ án đồng phạm, các chủ thể có thể cùng là người thực hành, cùng trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội. Nhưng cũng có thể có sự phân chia nhiệm vụ đối với từng đồng phạm như người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức.

Theo Điều 12 Bộ luật Hình sự, người từ đủ 16 tuổi trở lên là chủ thể của tội phạm này. Điều luật cũng quy định trách nhiệm hình sự đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi. Tuy nhiên cả 02 Khoản của Điều 163 quy định tội xâm phạm quyền hội họp, lập hội của công dân đều thuộc nhóm tội phạm ít nghiêm trọng. Do đó, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này.

Chủ thể của tội phạm còn phải là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự bao gồm năng lực nhận thức và năng lực làm chủ hành vi. Nếu người phạm tội trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc bị hạn chế năng lực trách nhiệm hình sự thì có thể được loại trừ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 21 Bộ luật hình sự.

2.4. Mặt chủ quan của tội phạm

Tội xâm phạm quyền hội họp, lập hội giáo của công dân được thực hiện do lỗi cố ý, có thể là lỗi cố ý gián tiếp hoặc cố ý trực tiếp. Tức là người phạm tội nhận thức rõ hành vi xâm phạm quyền hội họp, lập hội của công dân là trái pháp luật, thấy trước được hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xẩy ra hoặc nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xẩy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xẩy ra.

Người phạm tội xâm phạm quyền hội họp, lập hội của công dân có nhiều động cơ khác nhau; động cơ không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này, nên việc xác định động cơ phạm tội của người phạm tội chỉ có ý nghĩa trong việc quyết định hình phạt.

Mục đích của người phạm tội là mong muốn quyền hội họp, lập hội của công dân bị xâm phạm.

3. Hình phạt đối với người phạm tội xâm phạm quyền hội họp, lập hội của công dân

Điều 163 Bộ luật Hình sự quy định 03 khung hình phạt đối với người phạm tội như sau:

- Khung hình phạt phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm đối với người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác ngăn cản hoặc ép buộc người khác lập hội, hội họp hợp pháp, đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi này mà còn vi phạm.

- Khung hình phạt phạt tù từ 01 năm đến 03 năm khi người phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau:

a) Có tổ chức;

Cũng như các trường hợp phạm tội có tổ chức khác, xâm phạm quyền hội họp, lập hội của công dân có tổ chức là trường hợp có nhiều người cố ý cùng bàn bạc, cấu kết chặt chẽ với nhau,vạch kế hoạch để thực hiện hành vi xâm phạm quyền hội họp, lập hội của công dân, dưới sự điều khiển thống nhất của người cầm đầu.

Xâm phạm quyền hội họp, lập hội của công dân có tổ chức là một hình thức đồng phạm, có sự phân công, sắp đặt vai trò của những người tham gia, trong đó mỗi người thực hiện một hoặc một số hành vi và phải chịu sự điều khiển của người cầm đầu.

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

Người có chức vụ là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện một công vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ.

Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để xâm phạm quyền hội họp, lập hội của công dân là do người có chức vụ, quyền hạn thực hiện và hành vi phạm tội đó, có liên quan trực tiếp đến chức vụ, quyền hạn của họ; nếu họ không có chức vụ, quyền hạn đó thì họ khó có thể thực hiện việc xâm phạm quyền hội họp, lập hội của người khác; chức vụ, quyền hạn là điều kiện thuận lợi để người phạm tội thực hiện tội phạm một cách dễ dàng. Tuy nhiên, người phạm tội có việc lợi dụng chức vụ để phạm tội thì mới bị coi là có tình tiết tăng nặng. Nếu tội phạm do họ thực hiện không liên quan gì đến chức vụ, quyền hạn của họ thì dù họ có chức vụ, quyền hạn thì cũng không thuộc trường hợp phạm tội này.

c) Phạm tội 02 lần trở lên;

Đây là trường hợp người phạm tội đã thực hiện tội phạm từ 02 lần trở lên, chưa được xóa án tích

d) Dẫn đến biểu tình;

Đây là trường hợp người phạm tội xâm phạm đến quyền hội họp, lập nhóm của một hoặc một vài cá nhân nhưng gây bức xúc trong cộng đồng người tham gia hội nhóm đó gây nên tình trạng biểu tình.

đ) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

Trường hợp này vì hành vi xâm phạm đến quyền hội họp, lập hội của công dân khiến cho dư luận lên án, người dân cảm thấy bất công, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình ổn định an toàn xã hội.

- Khung hình phạt bổ sung, người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Luật Hoàng Anh

Tổng đài tư vấn pháp luật

0908 308 123
Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

0908 308 123

luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Tội làm sai lệch kết quả bầu cử, kết quả trưng cầu ý dân là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 05/07/2021

Tội làm sai lệch kết quả bầu cử, kết quả trưng cầu ý dân quy định tại Điều 161 BLHS

Các tội xâm phạm quyền tự do của con người, quyền tự do, dân chủ của công dân là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 05/07/2021

Các tội xâm phạm quyền tự do của con người, quyền tự do, dân chủ của công dân quy định tại Chương XV BLHS

Áp dụng quy định của Bộ luật hình sự đối với pháp nhân thương mại phạm tội như thế nào?

Hỏi đáp luật Hình Sự 05/07/2021

Áp dụng quy định của Bộ luật hình sự đối với pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều 74 BLHS

Tội xâm phạm quyền bình đẳng giới là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 05/07/2021

Tội xâm phạm quyền bình đẳng giới quy định tại Điều 165 BLHS