Có trường hợp nào được chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động?

Chúng ta vẫn biết người lao động và người sử dụng lao động ký kết hợp đồng để thực hiện các công việc nhất định. Vậy có trường hợp nào người lao động phải thực hiện các công việc khác so với hợp đồng lao động không? Bộ luật lao động năm 2019 có những quy định gì về các trường hợp này? Sau đây Luật Hoàng Anh xin được giải đáp về vấn đề trên.

I. Các trường hợp chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng

1. Phân loại theo nguyên nhân

Theo Khoản 1 Điều 29 Bộ luật lao động số 45/2019/QH14 ngày 20/11/2019:

Khi gặp khó khăn đột xuất do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm, áp dụng biện pháp ngăn ngừa, khắc phục tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, sự cố điện, nước hoặc do nhu cầu sản xuất, kinh doanh thì người sử dụng lao động được quyền tạm thời chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động nhưng không được quá 60 ngày làm việc cộng dồn trong 01 năm; trường hợp chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động quá 60 ngày làm việc cộng dồn trong 01 năm thì chỉ được thực hiện khi người lao động đồng ý bằng văn bản.

Theo đó, các trường hợp sau thì người sử dụng lao động được phép chuyển người lao động sang làm công việc khác so với hợp đồng:

● Gặp khó khăn đột xuất do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm

Thiên tai được định nghĩa tại Luật phòng chống thiên tai và Luật đê điều (sửa đổi, bổ sung năm 2020) bao gồm bão, áp thấp nhiệt đới, gió mạnh trên biển, lốc, sét, mưa lớn, lũ, lũ quét, ngập lụt; sạt lở đất, sụt lún đất do mưa lũ hoặc dòng chảy hoặc hạn hán; nước dâng, xâm nhập mặn, nắng nóng, hạn hán, cháy rừng do tự nhiên, rét hại, mưa đá, sương mù, sương muối, động đất, sóng thần và các loại thiên tai khác.

Hỏa hoạn, hay cháy, được hiểu là trường hợp xảy ra cháy không kiểm soát được có thể gây thiệt hại về người, tài sản và ảnh hưởng môi trường. (Theo Khoản 1 Điều 3 Luật phòng cháy chữa cháy năm 2001 sửa đổi năm 2013)

Dịch bệnh, hay dịch là sự xuất hiện bệnh truyền nhiễm với số người mắc bệnh vượt quá số người mắc bệnh dự tính bình thường trong một khoảng thời gian xác định ở một khu vực nhất định (Theo Khoản 13 Điều 2 Luật phòng chống bệnh truyền nhiễm năm 2007)

Theo đó, việc gặp khó khăn do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm là khi người sử dụng lao động gặp khó khăn vì gặp các hiện tượng trên. Những hiện tượng này là những hiện tượng bất khả kháng, mà người sử dụng lao động không mong muốn, cũng không có sự chuẩn bị để đối mặt. Các hiện tượng này gây ra nhiều thiệt hại cũng như khó có thể khắc phục, vì vậy, đây là lý do chính đáng để người sử dụng lao động chuyển người lao động sang làm một số công việc khác so với hợp đồng lao động để bảo vệ tài sản, khắc phục các hậu quả của thiên tai, hỏa hoạn dịch bệnh. Tuy nhiên, không thể lấy lý do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh để chuyển người lao động sang làm công việc khác so với hợp đồng nhưng không hề liên quan đến việc khắc phục thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh. Ví dụ: Không thể lấy lý do vì dịch Covid-19 để phân công công nhân trông giữ kho đi may khẩu trang tăng thu nhập cho doanh nghiệp.

● Áp dụng biện pháp ngăn ngừa, khắc phục tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, sự cố điện, nước: Các trường hợp này cũng tương tự như các trường hợp bất khả kháng trên do người sử dụng lao động có thể không lường trước và không mong muốn các vấn đề này xảy ra. Các biện pháp này thường là cấp thiết, nên việc phân công người làm công việc khác tạm thời thực hiện một số công việc khác so với hợp đồng để khắc phục các sự cố, bệnh nghề nghiệp là hợp lý.

● Do nhu cầu sản xuất, kinh doanh: Vấn đề do nhu cầu kinh doanh chủ yếu do người sử dụng doanh nghiệp quyết định nên các trường hợp này phải được quy định rõ ràng trong nội quy lao động của doanh nghiệp, đề phòng trường hợp người sử dụng lao động điều động người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động một cách vô lý với lý do là vì nhu cầu sản xuất, kinh doanh.

2. Phân loại theo thời hạn

- Thời hạn làm công việc khác so với hợp đồng lao động không quá 60 ngày làm việc cộng dồn trong 01 năm: Nếu người sử dụng lao động chuyển người lao động sang làm công việc khác so với hợp đồng lao động không quá 60 ngày cộng dồn trong một năm thì không cần có sự đồng ý của người lao động.

- Thời hạn làm công việc khác so với hợp đồng lao động quá 60 ngày làm việc cộng dồn trong 01 năm: Nếu người sử dụng lao động chuyển người lao động sang làm công việc khác so với hợp đồng lao động quá 60 ngày cộng dồn trong một năm thì phải có sự đồng ý của người lao động (Theo Khoản 1 Điều 29 Bộ luật lao động năm 2019)

II. Nghĩa vụ thông báo của người sử dụng lao động trong trường hợp chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động

Theo khoản 2 điều 29 Bộ luật lao động năm 2019, người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết trước ít nhất 03 ngày làm việc, thông báo rõ thời hạn làm tạm thời và bố trí công việc phù hợp với sức khỏe, giới tính của người lao động.

Việc thông báo này là vô cùng quan trọng, để người lao động có thể chuẩn bị tâm lý, sức khỏe, thậm chí có thời gian tìm hiểu về kiến thức đối với công việc mà mình sẽ phải thực hiện khác so với hợp đồng. Nếu chuyển người lao động sang làm công việc mới ngay, người lao động khó có thể thích nghi với công việc mới, gây cản trở đến tiến độ công việc.

III. Lương cho người lao động khi chuyển làm công việc khác so với hợp đồng

1. Lương trong thời gian chuyển làm công việc khác so với hợp đồng

Theo Khoản 3 Điều 29 Bộ luật lao động số 45/2019/QH14 ngày 20/11/2019:

Người lao động chuyển sang làm công việc khác so với hợp đồng lao động được trả lương theo công việc mới. Nếu tiền lương của công việc mới thấp hơn tiền lương của công việc cũ thì được giữ nguyên tiền lương của công việc cũ trong thời hạn 30 ngày làm việc. Tiền lương theo công việc mới ít nhất phải bằng 85% tiền lương của công việc cũ nhưng không thấp hơn mức lương tối thiểu

Theo đó:

- Người lao động được trả lương theo công việc mới nếu lương của công việc mới bằng hoặc cao hơn lương của công việc cũ.

- Người lao động được trả lương theo công việc cũ trong 30 ngày nếu tiền lương của công việc mới thấp hơn tiền lương của công việc mới, sau 30 ngày thì tiền lương được tính theo tiền lương của công việc mới.

- Tiền lương của công việc mới không được thấp hơn 85% tiền lương của công việc cũ và cũng không được thấp hơn mức lương tối thiểu.

Tiền lương của người lao động chuyển sang công việc mới được đảm bảo ở mức tối đa nhằm tránh các trường hợp lợi dụng chuyển công việc khác hợp đồng lao động cho người lao động nhằm giảm tiền lương của người lao động.

2. Lương ngừng việc do người lao động không đồng ý làm khác so với hợp đồng quá 60 ngày làm việc cộng dồn trong 01 năm dẫn đến ngừng việc

Người lao động có quyền không đồng ý thực hiện công việc khác so với công việc được thỏa thuận trong hợp đồng lao động nếu thời gian làm công việc đó quá 60 ngày làm việc cộng dồn trong 01 năm. Điều đó có thể dẫn đến việc người lao động sẽ phải ngừng việc. Tiền lương ngừng việc của người lao động được người sử dụng lao động trả theo điều 99 Bộ luật lao động số 45/2019/QH14 ngày 20/11/2019. Như vậy:

● Đối với trường hợp vì sự cố về điện, nước mà không do lỗi của người sử dụng lao động hoặc do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm, địch họa, di dời địa điểm hoạt động theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc vì lý do kinh tế (Theo Khoản 3 Điều 99 Bộ luật lao động số 45/2019/QH14 ngày 20/11/2019) :

- Trường hợp ngừng việc từ 14 ngày làm việc trở xuống thì tiền lương ngừng việc được thỏa thuận không thấp hơn mức lương tối thiểu.

- Trường hợp phải ngừng việc trên 14 ngày làm việc thì tiền lương ngừng việc do hai bên thỏa thuận nhưng phải bảo đảm tiền lương ngừng việc trong 14 ngày đầu tiên không thấp hơn mức lương tối thiểu.

● Nếu do nhu cầu sản xuất, kinh doanh thay đổi, tai nạn do lỗi của người sử dụng lao động dẫn đến người lao động phải chuyển sang làm việc khác so với hợp đồng nhưng không đồng ý nên ngừng việc: Người lao động được trả đủ tiền lương theo hợp đồng lao động (Theo Khoản 1 Điều 99 Bộ luật lao động số 45/2019/QH14 ngày 20/11/2019)

Như vậy, có trường hợp người lao động phải thực hiện các công việc khác so với hợp đồng lao động, các trường hợp được Bộ luật lao động số 45/2019/QH14 ngày 20/11/2019 quy định tương đối chặt chẽ, chi tiết và hợp lý.

Luật Hoàng Anh

Tổng đài tư vấn pháp luật

0908 308 123
Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

0908 308 123

luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Trách nhiệm của người sử dụng lao động đối với người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp như thế nào? (Phần 2)

Hỏi đáp luật Lao động 25/06/2021

Bài viết giải thích về trách nhiệm của người sử dụng lao động đối với người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

Trách nhiệm của người sử dụng lao động đối với người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp như thế nào? (Phần 3)

Hỏi đáp luật Lao động 25/06/2021

Bài viết giải thích về trách nhiệm của người sử dụng lao động đối với người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

Bệnh nghề nghiệp là gì? Phân loại bệnh nghề nghiệp như thế nào?

Hỏi đáp luật Lao động 25/06/2021

Bài viết giải thích khái niệm bệnh nghề nghiệp, phân loại bệnh nghề nghiệp

Nội dung hợp đồng lao động được quy định như thế nào trong Bộ luật lao động năm 2019?

Hỏi đáp luật Lao động 26/06/2021

Bài viết giải thích về nội dung hợp đồng lao động được quy định như thế nào trong Bộ luật lao động năm 2019