Cưỡng bức lao động là gì? Xử lý như thế nào đối với người sử dụng lao động cưỡng bức lao động?

Cưỡng bức lao động là một vấn đề nghiêm trọng, cùng với quấy rối tình dục tại nơi làm việc, được pháp luật về lao động đặc biệt quan tâm. Vây, cưỡng bức lao động là gì? Xử lý như thế nào đối với người sử dụng lao động cưỡng bức lao động? Sau đây Luật Hoàng Anh xin trình bày về vấn đề này.

1. Khái niệm cưỡng bức lao động

Theo Khoản 7 Điều 3 Bộ luật lao động số 45/2019/QH14 ngày 20/11/2019:

Cưỡng bức lao động là việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc các thủ đoạn khác để ép buộc người lao động phải làm việc trái ý muốn của họ.”

Dựa vào quy định trên,

a. Cưỡng bức lao động là hành vi

- Dùng vũ lực: Theo góc độ nhận diện hành vi khách quan của luật hình sự, dùng vũ lực là sử dụng sức mạnh thể chất (cơ bắp, khả năng sử dụng vật dụng khác) để tấn công, gây thương tích cho người khác. Tuy nhiên có quan điểm cho rằng dùng vũ lực bao gồm dùng vũ lực về thể chất hoặc dùng vũ lực về tinh thần. Bộ luật lao động số 45/2019/QH14 ngày 20/11/2019 hay các văn bản khác dưới luật không quy định chi tiết thế nào là dùng vũ lực, nhưng có thể nhận thấy việc dùng vũ lực tác động xấu và ngay lập tức đến sức khỏe, tính mạng danh dự, nhân phẩm của người lao động.

- Đe dọa dùng vũ lực: Đe dọa dùng vũ lực là cho người lao động thấy dấu hiệu của việc dùng vũ lực, khiến người lao động sợ hãi và làm theo người sử dụng lao động, dù người lao động chưa có hành động dùng vũ lực. Việc đe dọa dùng vũ lực có thể được thực hiện thông qua lời nói, ngôn ngữ cơ thể hoặc hành vi khác không phải là hành vi bạo lực nhưng có ý nghĩa đe dọa.

- Sử dụng các thủ đoạn khác: Chưa có quy định rõ ràng về các thủ đoạn khác, nhưng có thể đánh giá các thủ đoạn này tương đối đa dạng bởi việc thực hiện thủ đoạn nào phụ thuộc vào trường hợp thực tế và mục đích cưỡng bức lao động của người sử dụng lao động. Các thủ đoạn này có thể là lừa gạt, uy hiếp người lao động, giữ giấy tờ của người lao động,… Trong trường hợp cụ thể, ví dụ như người sử dụng lao động muốn người lao động phải làm thêm giờ nên đóng cửa nơi làm việc để người lao động không thể ra khỏi nơi làm việc và phải tiếp tục công việc dù đã hết thời gian làm việc, đây cũng có thể được coi là thủ đoạn khác.

b. Mục đích của cưỡng bức lao động là ép buộc người lao động phải làm việc trái ý muốn của họ

Người sử dụng lao động thực hiện các hành vi, thủ đoạn trên với mục đích ép người lao động thực hiện những việc mà họ không muốn làm, tức trái với ý chí tự nguyện của người lao động. Mà tự nguyện lại là một trong những nguyên tắc được đề cao hàng đầu trong pháp luật về lao động (tự nguyện giao kết hợp đồng lao động, tự nguyện thỏa thuận, đàm phán trong thương lượng tập thể,…). Do vậy, kể cả khi người sử dụng lao động ép người lao động làm một việc không vi phạm pháp luật thì cũng được coi là cưỡng bức lao động. Ví dụ: Người sử dụng lao động đe dọa và ép người lao động phải mặc đồng phục tại nơi làm việc trong khi nội quy lao động, điều lệ khác không hề quy định về việc mặc đồng phục. Tuy rằng người lao động có mặc đồng phục hay không cũng không vi phạm pháp luật nhưng hành vi đe dọa và ép buộc người lao động làm việc mà họ không muốn như vậy cũng là một dạng cưỡng bức lao động.

Do các hành vi nguy hiểm và mục đích gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền của người lao động, nên cưỡng bức lao động là một trong những hành vi bị cấm trong lĩnh vực lao động (theo Điều 8 Bộ luật lao động số 45/2019/QH14 ngày 20/11/2019), đồng thời, khi người lao động bị người sử dụng lao động cưỡng bức lao động thì có thể đơn phương chấm dứt hợp đồng mà không cần báo trước (theo Điểm c Khoản 2 Điều 35 Bộ luật lao động số 45/2019/QH14 ngày 20/11/2019) và thông báo cho cơ quan có thẩm quyền xử lý đối với người sử dụng lao động về cưỡng bức lao động.

2. Xử phạt đối với người sử dụng lao động cưỡng bức lao động

Tùy theo mức độ khác nhau mà người sử dụng lao động có thể bị xử lý vi phạm hành chính hoặc bị xử lý hình sự.

Nếu ở mức độ chưa bị xử lý hình sự, người sử dụng lao động bị xử phạt vi phạm hành chính theo Khoản 3 Điều 10 Nghị định số 28/2020/NĐ-CP ngày 01/03/2020 của Chính phủ:

“Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 75.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có hành vi cưỡng bức lao động, ngược đãi người lao động mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.”

Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 ngày 27/11/2015, sửa đổi năm 2016 cũng có quy định về tội cưỡng bức lao động tại Điều 297 với các khung hình phạt khác nhau cho các nhóm hành vi khác nhau như phạt tiền từ 50.000.000 đến 200.000.000 Đồng, cải tạo không giam giữ đến 03 tháng, phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm, 03 năm đến 07 năm, 07 năm đến 12 năm. Ngoài ra, cưỡng bức lao động cũng là một trong số những biểu hiện của hành vi khách quan được nêu trong tội mua bán người (Điều 150), tội mua bán người dưới 18 tuổi (Điều 151) nên nếu đủ điều kiện cấu thành các tội phạm này thì người sử dụng lao động có thể bị phạt tù từ 05 đến 10 năm, hoặc từ 07 đến 12 năm.

Luật Hoàng Anh

Tổng đài tư vấn pháp luật

0908 308 123
Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

0908 308 123

luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Thẩm quyền thanh tra về lao động như thế nào? (Phần 1)

Hỏi đáp luật Lao động 14/06/2021

Bài viết này giải thích về thẩm quyền của thanh tra Chính phủ liên quan đến hoạt động thanh tra lao động

Phạm vi điều chỉnh của Luật an toàn, vệ sinh lao động năm 2015 là gì?

Hỏi đáp luật Lao động 14/06/2021

Bài viết này giải thích về phạm vi điều chỉnh của Luật an toàn, vệ sinh lao động năm 2015

Phụ lục hợp đồng lao động là gì theo Bộ luật lao động năm 2019?

Hỏi đáp luật Lao động 14/06/2021

Bài viết này giải thích về phụ lục hợp đồng lao động theo Bộ luật lao động năm 2019

Khái niệm phân biệt đối xử trong Bộ luật lao động năm 2019 là gì?

Hỏi đáp luật Lao động 14/06/2021

Bài viết giải thích về khái niệm phân biệt đối xử trong lao động