Đặc điểm của hợp đồng Lao động

Hợp đồng lao động, trước tiên, là một loại hợp đồng dân sự, do vậy, loại hợp đồng này chứa đựng đầy đủ đặc điểm, bản chất của hợp đồng, đó là sự thỏa thuận dựa trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng của các chủ thể. Tuy nhiên, sức lao động (được xem là đối tượng của hợp đồng) là loại hàng hóa đặc thù, hơn nữa trong quan hệ lao động, người lao động còn phải chịu sự quản lý và phụ thuộc vào người sử dụng lao động nên ngoài những đặc điểm chung vốn có của một loại hợp đồng dân sự, hợp đồng lao động còn mang một số đặc điểm riêng. Đặc điểm của hợp đồng lao động là nội dung được tập trung phân tích, đề cập thông qua nội dung dưới đây.

 Đặc điểm của hợp đồng lao động

1. Đối tượng của hợp đồng lao động là việc làm

Hợp đồng lao động thực chất là sự thỏa thuận về việc mua bán sức lao động. Người cung cấp sức lao động ở đây là người lao động và người có nhu cầu sử dụng sức lao động là người sử dụng lao động. Tuy nhiên, đây là hợp đồng mua bán đặc biệt bởi sức lao động - đối tượng mua bán của hợp đồng là một loại “ hàng hoá ” đặc biệt. Không giống như các loại “ hàng hoá ” thông thường có thể nhìn thấy, sờ thấy, cầm được; sức lao động là “ hàng hoá ” mà chúng ta không thể nhìn thấy, không thể cầm được, chỉ có thể "cảm nhận" được thông qua quá trình lao động của người lao động. Thông qua quá trình lao động, người lao động chuyển giao hàng hoá sức lao động cho người sử dụng lao động và trên cơ sở đó người sử dụng lao động trả công cho người lao động. Quá trình lao động đó được thể hiện thông qua việc người lao động thực hiện một công việc nhất định (đó chính là việc làm).

Việc làm là đối tượng của hợp đồng lao động và là một trong những dấu hiệu quan trọng để nhận diện quan hệ lao động cá nhân (hay còn gọi là quan hệ việc làm). Chỉ khi nào trong quan hệ đó, trong hợp đồng đó có yếu tố việc làm thì quan hệ đó mới được xác định là quan hệ lao động và hợp đồng đó mới được xác định là hợp đồng lao động. Theo Khuyến nghị số 198 của Tổ chức Lao động quốc tế, có rất nhiều dấu hiệu để nhận diện một công việc được coi là việc làm trong quan hệ lao động nhưng trong đó tập trung vào hai nhóm dấu hiệu chính, đó là thực tế công việc và việc đình kì trả lương.

Hợp đồng lao động là hình thức pháp lí của quan hệ lao động. Các bên giao kết hợp đồng lao động sẽ làm phát sinh quan hệ lao động. Tuy nhiên, vì mục tiêu của chính sách quốc gia cũng như của luật lao động về việc bảo vệ người lao động mà việc xác định sự tồn tại của mối quan hệ lao động cụ thể sẽ được dựa trên các yếu tố liên quan đến việc thực hiện công việc và vấn đề trả công cho người lao động chứ không phụ thuộc vào việc quan hệ đó được gọi tên là gì hay quan hệ đó được miêu tả như thế nào trong hợp đồng hoặc quan hệ đó được thể hiện dưới hình thức hợp đồng nào.

2.  Người lao động phải tự mình thực hiện công việc trong hợp đồng và chịu sự quản lí của người sử dụng lao động

Đối với hợp đồng lao động, người lao động phải tự mình thực hiện công việc trong hợp đồng. Nếu người lao động có thể chuyển việc cho người khác làm một cách tuỳ tiện thì người này thường không phải là người lao động (trong quan hệ lao động).

Đặc điểm này xuất phát từ bản chất của quan hệ lao động. Khác với quan hệ có yếu tố lao động do luật dân sự (thông qua hợp đồng dịch vụ) điều chỉnh, các bên quan tâm đến lao động quá khứ (tức là lao động đã kết tinh vào sản phẩm), trong quan hệ lao động, các bên quan tâm đến lao động sống (tức là lao động đang có và đang diễn ra). Hơn nữa, hợp đồng lao động thường được thực hiện ở môi trường có tính chuyên môn hoá cao, người lao động không làm mọi công đoạn khi sản xuất sản phẩm mà có thể chỉ thực hiện một hoặc một số công đoạn. Chính vì vậy, người lao động phải tự mình giao kết hợp đồng và tự mình thực hiện các công việc đã thoả thuận trong hợp đồng. Hơn nữa, khi tham gia quan hệ lao động, người lao động còn được hưởng một số quyền lợi dựa trên mức độ cống hiến của chính bản thân họ (như quyền về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc...). Những quyền lợi này gắn liền với nhân thân của người lao động, gắn liền với người lao động và chỉ người lao động giao kết hợp đồng lao động đó mới được hưởng nên đòi hỏi người lao động phải tự mình thực hiện công việc trong hợp đồng.

Như đã phân tích, người lao động tự mình thực hiện công việc trong hợp đồng, song trong quá trình thực hiện công việc đó lại chịu sự quản lí giám sát của người sử dụng lao động. Bởi hoạt động lao động của người lao động không phải là hoạt động mang tính đơn lẻ cá nhân mà là hoạt động mang tính tập thể, quá trình làm việc của người lao động có sự liên quan đến các lao động khác. Chính vì vậy cần phải có sự quản lí của người sử dụng lao động. Hơn nữa, khi thực hiện công việc, người lao động sẽ phải sử dụng máy móc, thiết bị tài sản của doanh nghiệp nên người sử dụng lao động phải có quyền quản lí đối với người lao động. Đây là dấu hiệu quan trọng để nhận diện quan hệ lao động phát sinh trên cơ sở của hợp đồng lao động.

Pháp luật hầu hết các quốc gia đều quy định Người lao động phải trực tiếp giao kết hợp đồng lao động (trừ những trường hợp đặc biệt như đối với lao động nhỏ tuổi, giao kết với đại diện của nhóm Người lao động...) đồng thời người lao động phải tự mình thực hiện công việc đã thoả thuận trong hợp đồng, không được chuyển cho người khác, trừ trường hợp được người sử dụng lao động đồng ý.

3. Hợp đồng lao động được thực hiện trong một thời gian nhất định và tại địa điểm đã được thoả thuận

Thực chất hợp đồng lao động chính là hợp đồng mua bán sức lao động. Tuy nhiên, tại thời điểm giao kết hợp đồng lao động chưa có sức lao động. Sức lao động chỉ có được thông qua quá trình lao động của người lao động. Điều đó có nghĩa, để có được hàng hoá sức lao động cần phải có một khoảng thời gian nhất định để người lao động thực hiện các nghĩa vụ trong hợp đồng. Chính bởi vậy, hợp đồng lao động bao giờ cũng được thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định. Khi giao kết hợp đồng, các bên bao giờ cũng xác định khoảng thời gian thực hiện hợp đồng, có thể lâu dài hoặc có thể trong một thời gian nhất định tuỳ theo tính chất của công việc. Đây cũng là lí do để giải thích tại sao pháp luật thường phân chia loại hợp đồng lao động theo thời hạn của hợp đồng.

Trong hợp đồng lao động, các bên thường thoả thuận để xác định rõ địa điểm thực hiện công việc. Tuy nhiên, trên thực tế thông thường địa điểm thực hiện công việc do người sử dụng lao động xác định bởi người sử dụng lao động lao động là người quản lí lao động đối với người lao động đồng thời họ cũng chính là người có trách nhiệm phải đảm bảo các điều kiện lao động cho người lao động.

4. Những thoả thuận trong hợp đồng lao động thường chỉ trong giới hạn pháp lí nhất định

Về nguyên tắc, những thoả thuận trong các hợp đồng đều phải trên cơ sở quy định của pháp luật, phù hợp với pháp luật. Những thoả thuận trong hợp đồng lao động chỉ trong khung pháp luật, giới hạn pháp lí mà pháp luật đã quy định. Trong khung pháp lí đó, quyền của người lao động được pháp luật lao động quy định ở mức tối thiểu và nghĩa vụ của người lao động được quy định ở mức tối đa. Cụ thể, trong quan hệ lao động, tiền lương - quyền lợi cơ bản nhất của người lao động bao giờ cũng được quy định ở mức tối thiểu. Pháp luật hoàn toàn không giới hạn mức lương tối đa mà người lao động có thể được hưởng. Còn thời gian làm việc - nghĩa vụ cơ bản của người lao động lại được pháp luật xác định ở mức tối đa (8h/ngày). Các bên chỉ có thể thoả thuận thời gian làm việc ở mức thấp hơn hoặc cao nhất là bằng mức thời gian pháp luật đã quy định chứ không được quy định ở mức cao hơn. Nếu các bên thoả thuận thời gian làm việc ở mức cao hơn sẽ bị coi là trái pháp luật. Bên cạnh những giới hạn pháp lí đã được quy định trong pháp luật lao động, những thoả thuận của các bên trong hợp đồng lao động còn bị chi phối bởi các quy định trong thoả ước lao động tập thể (nếu có) của doanh nghiệp. Các thoả thuận trong hợp đồng lao động cũng phải đảm bảo những giới hạn pháp lí mà thoả ước lao động tập thể đã quy định.

Quan hệ lao động không chỉ bao gồm quan hệ lao động cá nhân mà còn gồm cả quan hệ lao động tập thể. Trong xu thế phát triển, quan hệ lao động tập thể ngày càng được quan tâm và coi trọng bởi nó chi phối và ảnh hưởng rất nhiều đến quan hệ lao động cá nhân. Do ở vị thế yếu hơn nên một cá nhân người lao động rất khó có thể có được những thoả thuận với người sử dụng lao động về quyền lợi trong quan hệ lao động cao hơn quy định của pháp luật nhưng điều đó lại có thể dễ dàng đạt được thông qua sức mạnh của tập thể lao động. Những thoả thuận tập thể khi đã đạt được (như thoả ước lao động tập thể) sẽ được coi như là “luật” của doanh nghiệp nên về nguyên tắc các thoả thuận ừong hợp đồng lao động phải phù hợp với các thoả thuận đã đạt được trong thoả ước lao động tập thể. Mặt khác, ngày nay nhà nước thường có xu hướng không can thiệp sâu vào quan hệ lao động, đảm bảo quyền tự chủ cho các doanh nghiệp cũng như quyền thoả thuận của các bên vì vậy càng có nhiều vấn đề, nhiều nội dung cần phải được các bên thoả thuận trong thoả ước hoặc quy chế của doanh nghiệp. Bởi vậy, những thoả thuận trong hợp đồng lao động không chỉ giới hạn trong khung pháp lí do pháp luật quy định mà còn phải phù hợp, tương thích với thoả ước lao động tập thể cũng như quy chế hợp pháp trong đơn vị.

Luật Hoàng Anh

CAM KẾT DỊCH VỤ
  • Đồng hành cùng Thân chủ.
  • Phương án tốt, giải pháp hay.
  • Bảo mật - Uy tín - Tin cậy - Chi phí thấp - Hiệu quả cao.
  • Dịch vụ pháp lý tốt số 2 tại Việt Nam.
  • Cam kết HOÀN TIỀN nếu thực hiện dịch vụ không thành công.

Cảm ơn quý vị và các bạn đã tin tưởng Luật Hoàng Anh, nếu có thắc mắc muốn giải đáp hãy liên hệ ngay cho chúng tôi.

Tổng đài tư vấn pháp luật

Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Dịch vụ Luật Sư uy tín hàng đầu tại Hà Nội.

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

Email: luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan