Khái niệm người sử dụng lao động, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng lao động được thể hiện như thế nào trong Bộ luật lao động năm 2019?

Người sử dụng lao động là một chủ thể quan trọng trong quan hệ lao động. Vậy người sử dụng lao động là ai? Quyền và nghĩa vụ của người sử dụng lao động như thế nào?

1. Định nghĩa người sử dụng lao động

Theo Khoản 2 Điều 3 Bộ luật lao động số 45/2019/QH14 ngày 20/11/2019:

“Người sử dụng lao động là doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, hợp tác xã, hộ gia đình, cá nhân có thuê mướn, sử dụng người lao động làm việc cho mình theo thỏa thuận; trường hợp người sử dụng lao động là cá nhân thì phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ.”

Theo đó, người sử dụng lao động có thể là cá nhân, tổ chức nói chung (doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, hợp tác xã, hộ gia đình). Riêng đối với cá nhân là người sử dụng lao động phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, tức là:

- Là người thành niên, từ đủ 18 tuổi trở lên (Người chưa thành niên không thể trở thành người sử dụng lao động)

- Không bị mất năng lực hành vi dân sự, tức không mắc các bệnh thần kinh hoặc bệnh khác khiến không thể nhận thức và làm chủ hành vi và bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự.

- Không bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, tức nghiện ma túy và các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản và bị Tòa án tuyên bố bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.

- Không phải người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, tức do tình trạng thể chất hoặc tinh thần gặp khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức bị mất năng lực hành vi dân sự và bị Tòa án tuyên bố là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

2. Quyền và nghĩa vụ của người sử dụng lao động

2.1. Quyền của người sử dụng lao động

Theo khoản 1 điều 6 Bộ luật lao động năm 2019, người sử dụng lao động có các quyền:

- Tuyển dụng, bố trí, quản lý, điều hành, giám sát lao động; khen thưởng và xử lý vi phạm kỷ luật lao động. Đây là quyền cơ bản, quyền đầu tiên của người sử dụng lao động. Quyền này cũng được quy định ngay trong khái niệm “người lao động” tại khoản 1 điều 3 Bộ luật lao động năm 2019 khi người lao động chịu sự quản lý, điều hành, giám sát của người sử dụng lao động. Quyền này cũng gắn liền với một số nghĩa vụ nhất định như tạo sổ quản lý người lao động.

- Thành lập, gia nhập, hoạt động trong tổ chức đại diện người sử dụng lao động, tổ chức nghề nghiệp và tổ chức khác theo quy định của pháp luật. Quyền này được bổ sung so với Bộ luật lao động năm 2012 khi người sử dụng lao động được thành lập, gia nhập, hoạt động trong tổ chức đại diện người lao động, trong khi trước đây chỉ có duy nhất một tổ chức đại diện là Công đoàn, người sử dụng lao động không được thành lập, gia nhập, hoạt động trong bất kỳ tổ chức đại diện người lao động nào khác.

- Yêu cầu tổ chức đại diện người lao động thương lượng với mục đích ký kết thỏa ước lao động tập thể; tham gia giải quyết tranh chấp lao động, đình công; đối thoại, trao đổi với tổ chức đại diện người lao động về các vấn đề trong quan hệ lao động, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người lao động. Do pháp luật về lao động đã có sự thay đổi khi cho phép tổ chức đại diện người lao động ngoài Công đoàn được thành lập và hoạt động song song với Công đoàn, hiện nay người sử dụng lao động có thể yêu cầu tổ chức đại diện người lao động nói chung thương lượng để ký thỏa ước lao động tập thể, và các vấn đề tranh chấp, đình công không chỉ với Công đoàn.

- Đóng cửa tạm thời nơi làm việc. Người sử dụng lao động có thể đóng cửa tạm thời nơi làm việc trừ trường hợp bị cấm đóng cửa tạm thời tại điều 206 Bộ luật lao động năm 2019 liên quan đến đình công.

- Các quyền khác theo quy định của pháp luật. Bộ luật lao động năm 2012 không liệt kê các quyền khác vào quy định về quyền của người sử dụng lao động. Bộ luật lao động năm 2019 đưa ra các quyền khác theo quy định của pháp luật, tức là công nhận các quyền khác được quy định ngay trong Bộ luật lao động hoặc luật khác như luật an toàn, vệ sinh lao động,... Ví dụ, người sử dụng lao động được quyền cân nhắc chọn thời điểm kiểm tra sức khỏe định kỳ cho người lao động là người khuyết tật cho phù hợp (điều 177 Bộ luật lao động năm 2019).

2.2. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động

Theo Khoản 2 Điều 6 Bộ luật lao động năm 2019, người sử dụng lao động có các nghĩa vụ sau:

- Thực hiện hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể và thỏa thuận hợp pháp khác; tôn trọng danh dự, nhân phẩm của người lao động. Về việc thực hiện hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể và thỏa ước hợp pháp, đây là nghĩa vụ chung của các chủ thể tham gia vào quan hệ lao động, trong đó có người sử dụng lao động, trên thực tế, nghĩa vụ này là nghĩa vụ có trách nhiệm với những gì người sử dụng lao động đối với người lao động và các tổ chức đại diện cho người lao động. Về vấn đề tôn trọng nhân phẩm, danh dự, người lao động cũng có nghĩa vụ phải tôn trọng nhân phẩm, danh dự, tuy nhiên, người sử dụng lao động là người trực tiếp tuyển dụng và trả lương người lao động, nên dễ gây ra các vấn đề không tôn trọng đối với người lao động hơn.

- Thiết lập cơ chế và thực hiện đối thoại, trao đổi với người lao động và tổ chức đại diện người lao động; thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc. Việc thực hiện đối thoại, trao đổi với người lao động được quy định tại điều 63 Bộ luật lao động năm 2019 và chương V Nghị định số 145/2020/NĐ-CP ngày 14/12/2020 của Chính Phủ. Người sử dụng lao động thiết lập, thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở nơi làm việc nhằm đảm bảo sự cân bằng giữa người lao động và người sử dụng lao động, cũng như người lao động với người lao động.

- Đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nhằm duy trì, chuyển đổi nghề nghiệp, việc làm cho người lao động. Người sử dụng lao động thực hiện đào tạo nghề dựa trên điều Khoản 2 Điều 59 Bộ luật lao động năm 2019, đồng thời người sử dụng lao động có thể giao kết hợp đồng học nghề, tập nghề với người lao động nhằm nâng cao trình độ chuyên môn đối với những người lao động mới.

- Thực hiện quy định của pháp luật về lao động, việc làm, giáo dục nghề nghiệp, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và an toàn, vệ sinh lao động; xây dựng và thực hiện các giải pháp phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Do các quy định trên đều có ảnh hưởng trực tiếp đến người lao động, mà người sử dụng lao động lại là chủ thể thực hiện một số quyền, nghĩa vụ cho người lao động như đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc cũng như có trách nhiệm đảm bảo an toàn nơi làm việc nên người sử dụng lao động phải tuân thủ theo các quy định của pháp luật về các vấn đề này.

Tham gia phát triển tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia, đánh giá, công nhận kỹ năng nghề cho người lao động. Người sử dụng lao động phải thực hiện nghĩa vụ này vì mục tiêu chung của quốc gia về nâng cao tay nghề, trình độ người lao động, giúp phát triển nguồn nhân lực đất nước.

Như vậy, các quyền và nghĩa vụ của người sử dụng lao động được thể hiện tương đối bao quát tại Điều 6 của Bộ luật lao động năm 2019, các quyền và nghĩa vụ này gắn liền với một chủ thể quan trọng khác là người lao động, nên có thể nói người lao động có ảnh hưởng rất lớn đến quyền và nghĩa vụ của người sử dụng lao động.

                                                                                             Luật Hoàng Anh

CAM KẾT DỊCH VỤ
  • Đồng hành cùng Thân chủ.
  • Phương án tốt, giải pháp hay.
  • Bảo mật - Uy tín - Tin cậy - Chi phí thấp - Hiệu quả cao.
  • Dịch vụ pháp lý tốt số 2 tại Việt Nam.
  • Cam kết HOÀN TIỀN nếu thực hiện dịch vụ không thành công.

Cảm ơn quý vị và các bạn đã tin tưởng Luật Hoàng Anh, nếu có thắc mắc muốn giải đáp hãy liên hệ ngay cho chúng tôi.

Tổng đài tư vấn pháp luật

Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Dịch vụ Luật Sư uy tín hàng đầu tại Hà Nội.

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

Email: luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan