Người lao động và điều kiện chủ thể của người lao động theo quy định của Bộ luật lao động năm 2019 như thế nào?

Người lao động là chủ thể cơ bản trong quan hệ lao động, và cũng là đối tượng điều chỉnh cơ bản của pháp luật lao động. Vậy người lao động là ai? Có những tiêu chuẩn gì đối với người lao động?

1. Khái niệm người lao động

Tại Khoản 1 Điều 3 Bộ luật lao động số 45/2019/QH14 ngày 20/11/2019 có quy định:

Người lao động là người làm việc cho người sử dụng lao động theo thỏa thuận, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành, giám sát của người sử dụng lao động.”

Theo định nghĩa trên, người lao động là cá nhân, có thỏa thuận với người sử dụng lao động (thông qua hợp đồng) và được trả lương dựa trên công việc mà cá nhân này làm. Trong quá trình làm việc, các cá nhân này chịu sự quản lý, điều hành, giám sát từ người sử dụng lao động. Tuy nhiên, người sử dụng lao động cũng chỉ được quản lý, điều hành và giám sát trong phạm vi nhất định, liên quan đến quan hệ lao động giữa người sử dụng lao động và người lao động.

Khái niệm này có sự khác biệt so với khái niệm của Bộ luật lao động năm 2012 bởi Bộ luật lao động năm 2012 quy định người lao động là người “làm việc theo hợp đồng lao động”. Vậy theo Bộ luật lao động năm 2019, nếu không phải là chủ thể của hợp đồng lao động thì có là “người lao động”? Trên thực tế, người lao động vẫn là người làm việc có hợp đồng lao động. Bởi theo Khoản 6 Điều 3 Bộ luật lao động năm 2019 thì người làm việc không có quan hệ lao động là người làm việc trên cơ sở thuê mướn bằng hợp đồng lao động. Tuy nhiên chỉ có người lao động, người sử dụng lao động và các tổ chức đại diện của các bên, cơ quan nhà nước có thẩm quyền mới là chủ thể trong quan hệ lao động. Như vậy, người lao động cũng là người làm việc cho người sử dụng lao động và có hợp đồng lao động, tuy nhiên, hợp đồng lao động sẽ không còn là một điều kiện để xác định người lao động nữa.

2. Điều kiện chủ thể của người lao động.

2.1. Về năng lực pháp luật lao động và năng lực hành vi lao động

Một cá nhân muốn trở thành người lao động trước tiên phải có năng lực chủ thể người lao động, gồm năng lực pháp luật lao động và năng lực hành vi lao động.

a. Năng lực pháp luật lao động:

Năng lực pháp luật là khả năng mà một người được pháp luật trao cho các quyền và nghĩa vụ. Năng lực pháp luật lao động là khả năng một người được pháp luật lao động trao cho các quyền và nghĩa vụ trong quan hệ lao động. Vậy, năng lực pháp luật lao động về cơ bản không có ngay khi con người sinh ra như năng lực pháp luật dân sự, bởi pháp luật lao động chỉ điều chỉnh trong phạm vi điều chỉnh đối với người lao động đủ tuổi lao động theo luật định.

b. Năng lực hành vi lao động:

Một người có khả năng lao động hay không phụ thuộc vào năng lực hành vi lao động của người đó. Năng lực hành vi lao động giống với năng lực hành vi dân sự, được xác định dựa trên độ tuổi và khả năng điều khiển hành vi của một người. Trên thực tế, một người chưa đủ tuổi trưởng thành cũng có thể tham gia vào quan hệ lao động, hoặc một người gặp khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi vẫn có thể trở thành người lao động. Một người có thể có đủ năng lực hành vi lao động để thực hiện một công việc này nhưng lại không đủ năng lực hành lao động để thực hiện công việc khác, như trẻ vị thành niên không có đầy đủ năng lực hành vi để làm kỹ sư xây dựng nhưng có đủ năng lực để làm một số công việc nhẹ theo luật định.

2.2. Về độ tuổi:

a. Về độ tuổi tối thiểu: 

Theo Khoản 1 Điều 3 Bộ luật lao động năm 2019:

Độ tuổi lao động tối thiểu của người lao động là đủ 15 tuổi, trừ trường hợp quy định tại Mục 1 Chương XI của Bộ luật này.

Một người có thể tham gia vào quan hệ lao động phải đạt đủ 15 tuổi đối với các ngành nghề công việc thông thường, đạt đủ 13 đối với 12 công việc nhẹ được Thông tư 09/2020/TT-BLĐTBXH ngày 12/11/2020 liệt kê trong Phụ lục II (bao gồm: Biểu diễn nghệ thuật; Vận động viên thể thao; Lập trình phần mềm; Một số nghề truyền thống; Một số nghề thủ công mỹ nghệ, Một số công việc nhỏ thủ công, đóng gói, nông nghiệp,…) và dưới 13 tuổi đối với các công việc nhẹ được quy định tại Khoản 3 Điều 145 Bộ luật lao động năm 2019 (bao gồm: Các công việc nghệ thuật, thể dục, thể thao nhưng không làm tổn hại đến sự phát triển thể lực, trí lực, nhân cách của người chưa đủ 13 tuổi). Suy ra một người không nhất thiết phải có đầy đủ năng lực hành vi dân sự để tham gia vào quan hệ lao động, những người có năng lực hành vi dân sự một phần cũng có thể tham gia vào các quan hệ lao động. Do những lao động từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi chưa có năng lực hành vi dân sự đầy đủ nên trong việc giao kết hợp đồng cần phải có sự đồng ý của người đại diện hợp pháp, còn với người lao động dưới 15 tuổi cần có người đại diện hợp pháp cùng ký kết hợp đồng, đây cũng là một trong những điều kiện cần có khi người lao động là vị thành niên.

b. Về độ tuổi tối đa:

Bộ luật lao động năm 2019 không quy định độ tuổi tối đa đối với người lao động, tuy nhiên có quy định về tuổi nghỉ hưu tại Điều 169. Những người đã về hưu, cao tuổi vẫn có thể trở thành người lao động cao tuổi theo Điều 148 Bộ luật lao động năm 2019.

2.3. Năng lực điều khiển hành vi

Một người muốn thực hiện các công việc cần phải có sức khỏe đáp ứng điều kiện công việc đó. Đồng thời, việc giao kết hợp đồng lao động giữa người sử dụng lao động và người lao động phải có sự tự nguyện, thỏa thuận. Do vậy, một người lao động cần có năng lực điều khiển hành vi nhất định, không mất năng lực điều khiển hành vi hoàn toàn.

2.4. Về Quốc tịch

Người lao động có quốc tịch Việt Nam hoặc quốc tịch nước ngoài.

Tuy nhiên, người có quốc tịch nước ngoài phải đảm bảo các yêu cầu được quy định trong điều 151 Bộ luật lao động Việt Nam: Đủ 18 tuổi và có năng lực hành vi dân sự, có trình độ chuyên môn, kỹ thuật, có giấy phép lao động do cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam cấp,... Có thể nói, người lao động mang quốc tịch Việt Nam vẫn được ưu ái hơn về điều kiện trở thành người lao động. Điều này thể hiện sự ưu tiên của nhà nước đối với nguồn cung nhân lực trong nước cũng như việc tuyển chọn nguồn nhân lực từ nước ngoài thật chất lượng.

Như vậy, Bộ luật lao động năm 2019 đã xây dựng khái niệm người lao động mang tính khái quát cao hơn so với Bộ luật lao động năm 2012, các quy định về điều kiện chủ thể của người lao động cũng tương đối rõ ràng, mạch lạc, đảm bảo tính minh bạch, rõ ràng của pháp luật.

                                                                                             Luật Hoàng Anh

CAM KẾT DỊCH VỤ
  • Đồng hành cùng Thân chủ.
  • Phương án tốt, giải pháp hay.
  • Bảo mật - Uy tín - Tin cậy - Chi phí thấp - Hiệu quả cao.
  • Dịch vụ pháp lý tốt số 2 tại Việt Nam.
  • Cam kết HOÀN TIỀN nếu thực hiện dịch vụ không thành công.

Cảm ơn quý vị và các bạn đã tin tưởng Luật Hoàng Anh, nếu có thắc mắc muốn giải đáp hãy liên hệ ngay cho chúng tôi.

Tổng đài tư vấn pháp luật

Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Dịch vụ Luật Sư uy tín hàng đầu tại Hà Nội.

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

Email: luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan