Nguyên tắc thực hiện chế độ đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp từ Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp như thế nào?

Việc thực hiện các chế độ đối với người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp phải có nguyên tắc rõ ràng, nhất là khi thực hiện chế độ cho người lao động từ Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. Vậy các nguyên tắc đó là những nguyên tắc gì? Sau đây Luật Hoàng Anh xin trình bày về vấn đề này.

Theo Điều 41 Luật an toàn, vệ sinh lao động số 84/2015/QH13 ngày 25/06/2015, có 04 nguyên tắc thực hiện chế độ đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp từ Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.

1. Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp là quỹ thành phần của Quỹ bảo hiểm xã hội; việc đóng, hưởng, quản lý và sử dụng quỹ thực hiện theo quy định của Luật an toàn, vệ sinh lao động và Luật bảo hiểm xã hội

Quỹ bảo hiểm xã hội, theo Khoản 4 Điều 3 Luật bảo hiểm xã hội số 58/2014/QH13 ngày 20/11/2014, là quỹ tài chính độc lập với ngân hàng Nhà nước, được hình thành từ sự đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động và có sự hỗ trợ của Nhà nước. Như vậy, Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp là quỹ thành phần của Quỹ bảo hiểm xã hội thì cũng được hình thành từ sự đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động và được hỗ trợ của Nhà nước. Bản chất Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động là Quỹ bảo hiểm xã hội, nên tất cả các hoạt động đóng, hưởng, quản lý, sử dụng Quỹ phải được quy định trong Luật bảo hiểm xã hội, nhưng đồng thời, với tính chất phát sinh từ việc chống rủi ro tai nạn lao động, nên các hoạt động liên quan đến Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động cũng phải được quy định trong Luật an toàn, vệ sinh lao động.

2. Mức đóng bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp được tính trên cơ sở tiền lương tháng của người lao động và do người sử dụng lao động đóng

Số tiền đóng bảo hiểm tai nạn lao động trên thực tế vẫn do người lao động trả, nhưng người sử dụng lao động mới là chủ thể đóng bảo hiểm tai nạn lao động, vì người sử dụng lao động có trách nhiệm trả lương cho người lao động. Khi trả lương, người sử dụng lao động phải tính toán về việc khấu trừ tiền lương (nếu người lao động có hành vi phá hoại, làm hỏng hóc, mất tài sản của người sử dụng lao động), phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác. Người sử dụng lao động trích một mức nhất định trong tổng số tiền lương cuối cùng của người lao động để đóng bảo hiểm tai nạn lao động.

Tiền lương là căn cứ cho mức đóng bảo hiểm tai nạn xã hội, theo Khoản 7 Điều 4 Thông tư số 26/2017/TT-BLĐTBXH ngày 20/09/2017 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội:

- Là lương tháng liền kề trước tháng bị tai nạn lao động của người lao động trong trường hợp người lao động bị tai nạn lao động. Nếu người lao động bị tai nạn lao động ngay trong tháng đầu tiên đóng bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hoặc bị tai nạn lao động trong tháng đầu trở lại làm việc đóng bảo hiểm sau thời gian đóng gián đoán do chấm dứt hợp đồng thì mức đóng bảo hiểm tai nạn lao động, tai nạn nghề nghiệp được xác định dựa trên mức lương của người lao động vào chính tháng đó.

- Là tiền lương tháng cuối cùng đóng bảo hiểm vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp của công việc đã làm mà gây ra bệnh nghề nghiệp đối với người mắc bệnh nghề nghiệp đã nghỉ hưu hoặc không còn làm việc trong các nghề, công việc có nguy cơ bị bệnh nghề nghiệp. Tương tự với trường hợp người lao động bị tai nạn lao động trong tháng đầu trở lại làm việc đóng bảo hiểm sau thời gian đóng gián đoán do chấm dứt hợp đồng, người lao động bị mắc bệnh nghề nghiệp trong tháng đầu trở lại làm việc đóng bảo hiểm sau thời gian đóng gián đoán do chấm dứt hợp đồng thì mức đóng bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp được xác định dựa trên mức lương của người lao động vào chính tháng đó.

3. Mức hưởng trợ cấp, mức hỗ trợ cho người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp được tính trên cơ sở mức suy giảm khả năng lao động, mức đóng và thời gian đóng vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

Mức hưởng trợ cấp, mức hỗ trợ cho người lao động dựa trên 03 căn cứ:

- Mức suy giảm khả năng lao động: Người lao động có mức suy giảm khả năng lao động càng cao thì các chi phí cho tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp cũng càng cao, dẫn đến số tiền mà Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp phải trả cho người lao động càng cao.

- Mức đóng vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp: Mức đóng, như đã nêu trên, phụ thuộc vào mức lương của người lao động, đồng thời, người sử dụng lao động là chủ thể đóng bảo hiểm cho người lao động, nên mức đóng vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp đôi khi không hoàn toàn do người lao động quyết định.

- Thời gian đóng vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp: Là tổng thời gian đóng bảo hiểm Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp không kể thời gian trùng của các hợp đồng lao động. Thời gian đóng càng lâu thì số tiền người lao động đóng góp vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp cũng càng lớn, nên đương nhiên người lao động sẽ được hưởng nhiều hơn so với thời gian đóng bảo hiểm ngắn hơn.

4. Việc thực hiện bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp phải đơn giản, dễ dàng, thuận tiện, bảo đảm kịp thời và đầy đủ quyền lợi cho người tham gia bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

Việc đóng bảo hiểm là nghĩa vụ của người sử dụng lao động, cũng như người lao động. Tuy nhiên nếu hoạt động liên quan đến bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp không dễ dàng, thuận tiện thì người sử dụng lao động, người lao động có thể thực hiện sai, không hiểu nên không thực hiện các nghĩa vụ liên quan đến bảo hiểm tai nạn lao động. Ngược lại, nếu người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp mà Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp không đảm bảo chế độ kịp thời cho người lao động thì cũng ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của người lao động tham gia bảo hiểm. Vì vậy, việc thực hiện bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp cần đơn giản, dễ dàng, thuận tiện và kịp thời.

Luật Hoàng Anh

 

Tổng đài tư vấn pháp luật

0908 308 123
Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

0908 308 123

luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Điều kiện ban hành, sửa đổi, bổ sung nội quy lao động là gì?

Hỏi đáp luật Lao động 01/07/2021

Bài viết giải thích về điều kiện ban hành, sửa đổi, bổ sung nội quy lao động

Thời hiệu xử lý kỷ luật lao động được quy định như thế nào theo Bộ luật lao động năm 2019?

Hỏi đáp luật Lao động 01/07/2021

Bài viết giải thích về thời hiệu xử lý kỷ luật lao động được quy định theo Bộ luật lao động năm 2019?

Có những hình thức kỷ luật lao động theo Bộ luật lao động năm 2019?

Hỏi đáp luật Lao động 01/07/2021

Bài viết giải thích về những hình thức kỷ luật lao động theo Bộ luật lao động năm 2019

Trường hợp nào người lao động không được hưởng chế độ từ người sử dụng lao động khi bị tai nạn lao động?

Hỏi đáp luật Lao động 02/07/2021

Bài viết giải thích về ba trường hợp người lao động bị tai nạn lao động không được hưởng chế độ từ người sử dụng lao động