Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động thể hiện như thế nào trong Bộ luật lao động năm 2019?

Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng. Vậy quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng của người lao động như thế nào? Bộ luật lao động năm 2019 có những quy định gì về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng của người lao động? Sau đây Luật Hoàng Anh xin trình bày về vấn đề này.

I. Trường hợp người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng nhưng phải báo trước

Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng trong mọi trường hợp nhưng phải báo trước với người sử dụng lao động. Việc thông báo trước về hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng của người lao động giúp giảm thiểu thiệt hại có người sử dụng lao động nếu có, đồng thời người sử dụng lao động cũng có thời gian để tìm người thay thế làm công việc của người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng, thay đổi, sắp xếp công việc phù hợp sau khi người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động.

Số ngày thông báo trước khi đơn phương chấm dứt hợp đồng phụ thuộc vào thời hạn của hợp đồng lao động và tính chất, mức độ công việc.

● Đối với công việc bình thường không có tính đặc thù:

- Người lao động phải thông báo trước ít nhất 45 ngày nếu làm việc theo hợp đồng không xác định thời hạn.

- Người lao động phải thông báo trước ít nhất 30 ngày nếu làm việc theo hợp đồng xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng.

- Người lao động phải thông báo trước ít nhất 03 ngày làm việc nếu làm việc theo hợp đồng xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng

● Đối với công việc, ngành, nghề có tính chất đặc thù:

Các công việc đặc thù ở đây là các công việc đặc biệt cần có trình độ kỹ thuật, kỹ năng được đào tạo lâu dài, vị trí công việc được sắp xếp lịch trình, khó thay đổi nhanh chóng nếu người lao động không còn thực hiện công việc đó nữa. Điển hình các công việc đặc thù như: Thành viên tổ lái tàu bay; nhân viên kỹ thuật bảo dưỡng tàu bay, nhân viên sửa chữa chuyên ngành hàng không; nhân viên điều độ, khai thác bay; Người quản lý doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp; Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp; Thuyền viên thuộc thuyền bộ làm việc trên tàu Việt Nam đang hoạt động ở nước ngoài; thuyền viên được doanh nghiệp Việt Nam cho thuê lại làm việc trên tàu biển nước ngoài. Do đó, người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng đối với các công việc này phải thông báo cho người sử dụng lao động sớm hơn rất nhiều so với công việc bình thường. Theo Khoản 2 Điều 7 Nghị định số 145/2020/NĐ-CP ngày 14/12/2020 của Chính phủ:

- Người lao động phải thông báo trước ít nhất 120 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn hoặc hợp đồng lao động xác định thời hạn từ 12 tháng trở lên.

- Người lao động phải thông báo trước ít nhất bằng một phần tư thời hạn của hợp đồng lao động nếu làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn dưới 12 tháng

II. Trường hợp người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà không phải báo trước

Đây là điểm mới của Bộ luật lao động số 45/2019/QH14 ngày 20/11/2019 vì Bộ luật lao động số 10/2012/QH13 ngày 18/06/2012 không có quy định về trường hợp người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng mà không cần phải báo trước cho người sử dụng lao động. Có thể nói Bộ luật lao động năm 2019 đang có các quy định có lợi hơn cho người lao động trong việc đơn phương chấm dứt hợp đồng. Theo Khoản 2 Điều 35 Bộ luật lao động năm 2019 có các trường hợp sau:

● Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc theo thỏa thuận, trừ trường hợp chuyển người lao động sang làm công việc khác so với hợp đồng lao động: Công việc, địa điểm làm việc và điều kiện làm việc là những nội dung chủ yếu của hợp đồng lao động. Nếu người sử dụng lao động bố trí về công việc, địa điểm làm việc, điều kiện làm việc không đúng như những gì thỏa thuận trong hợp đồng, tức là không tôn trọng sự thỏa thuận trong hợp đồng, thì người lao động cũng không có nghĩa vụ phải thực hiện hợp đồng lao động và thông báo cho người sử dụng lao động về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng.

● Không được trả đủ lương hoặc trả lương không đúng thời hạn, trừ trường hợp vì lý do bất khả kháng mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng không thể trả lương đúng hạn tại Khoản 4 Điều 97 của Bộ luật lao động số 45/2019/QH14 ngày 20/11/2019: Khi người sử dụng lao động không trả đủ lương hoặc trả lương không đúng hạn, tức là người sử dụng lao động không thể thực hiện đúng nghĩa vụ của mình trong hợp đồng lao động, thì người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng mà không cần phải báo trước. Trường hợp người sử dụng lao động có lý do bất khả kháng (thiên tai, dịch bệnh,…) mà đã tìm mọi biện pháp khắc phục vẫn không thể trả lương đúng hạn thì cũng không được chậm quá 30 ngày, sau 30 ngày này, người lao động vẫn có thể đơn phương chấm dứt hợp đồng mà không cần báo trước.

● Bị người sử dụng lao động ngược đãi, đánh đập hoặc có lời nói, hành vi nhục mạ, hành vi làm ảnh hưởng đến sức khỏe, nhân phẩm, danh dự; bị cưỡng bức lao động: Người sử dụng lao động phải đảm bảo người lao động được an toàn trong môi trường làm việc tại địa điểm làm việc. Khi người lao động không được đảm bảo an toàn trong điều kiện tối thiểu, bị xâm phạm về thân thể và nhân phẩm danh dự thì người lao động không cần phải tiếp tục thực hiện hợp đồng và không cần thông báo cho người sử dụng lao động.

● Bị quấy rối tình dục tại nơi làm việc: Tương tự như trường hợp trên, người sử dụng không đảm bảo được an toàn cho người lao động, để bảo vệ bản thân, người lao động có thể đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà không cần thông báo cho người sử dụng lao động. Hành vi quấy rối tình dục cũng là hành vi vi phạm pháp luật, nếu người lao động có chứng cứ, người quấy rối tình dục tại nơi làm việc có thể bị xử phạt hành chính hoặc xử lý hình sự tùy theo mức độ vi phạm.

● Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc: Theo quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật lao động số 45/2019/QH14 ngày 20/11/2019, người lao động nữ mang thai nếu có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền về việc tiếp tục làm việc sẽ ảnh hưởng xấu tới thai nhi thì có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động àm không cần báo trước cho người sử dụng lao động. Nếu tiếp tục làm việc trong thời hạn báo trước khi đơn phương chấm dứt hợp đồng thì người phụ nữ mang thai có thể bị ảnh hưởng nghiêm trọng về sức khỏe, dẫn đến sảy thai hoặc nguy hiểm đến tính mạng.

● Đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Điều 169 của Bộ luật lao động số 45/2019/QH14 ngày 20/11/2019, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác: Người đã đủ tuổi nghỉ hưu trở thành người lao động cao tuổi, người này có thể đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động khi đã đủ tuổi nghỉ hưu, trừ trường hợp hai bên có thỏa thuận khác, hoặc ký kết một hợp đồng lao động mới với các điều kiện cho người lao động cao tuổi.

● Người sử dụng lao động cung cấp thông tin không trung thực theo quy định tại Khoản 1 Điều 16 của Bộ luật lao động số 45/2019/QH14 ngày 20/11/2019 làm ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng lao động:  Khi giao kết hợp đồng, người sử dụng lao động có trách nhiệm cung cấp thông tin về công việc, địa điểm làm việc, điều kiện làm việc, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, an toàn, vệ sinh lao động, tiền lương, hình thức trả lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, quy định về bảo vệ bí mật kinh doanh, bảo vệ bí mật công nghệ và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động mà người lao động yêu cầu. Nếu người sử dụng lao động không cung cấp hoặc cung cấp sai có thể ảnh hưởng đến chất lượng công việc, điều kiện đảm bảo an toàn của người lao động. Ví dụ: Người sử dụng lao động cung cấp thông tin về địa điểm làm việc ở A, nơi rộng rãi và có điều hòa nhưng thực tế công việc được thực hiện ở B, nơi chật hẹp, tối tăm, không có quạt, gây ảnh hưởng đến tiến trình thực hiện công việc của người lao động, thì người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng mà không cần báo trước cho người sử dụng lao động.

Như vậy, người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng, thậm chí có thể đơn phương chấm dứt hợp đồng trong một số trường hợp được pháp luật quy định, đây là một lợi thế mới cho người lao động mới được thể hiện trong Bộ luật lao động năm 2019.

Luật Hoàng Anh

 

 

Tổng đài tư vấn pháp luật

0908 308 123
Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

0908 308 123

luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Nội dung hợp đồng lao động được quy định như thế nào trong Bộ luật lao động năm 2019?

Hỏi đáp luật Lao động 26/06/2021

Bài viết giải thích về nội dung hợp đồng lao động được quy định như thế nào trong Bộ luật lao động năm 2019

Có trường hợp nào được chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động?

Hỏi đáp luật Lao động 26/06/2021

Bài viết này giải thích về các trường hợp được chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động

Tạm hoãn thực hiện hợp đồng theo Bộ luật lao động năm 2019 được quy định thế nào?

Hỏi đáp luật Lao động 26/06/2021

Bài viết giải thích về tạm hoãn thực hiện hợp đồng theo Bộ luật lao động năm 2019

Các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động được quy định như thế nào trong Bộ luật lao động năm 2019?

Hỏi đáp luật Lao động 26/06/2021

Bài viết giải thích các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động được quy định trong Bộ luật lao động năm 2019