2
Tư vấn mở chuỗi kinh doanh nhượng quyền thương mại
MỤC LỤC
Cùng chuyên mục
Quấy rối tình dục nơi công sở không phải hiện tượng hiếm có mà ngày nay nó đang diễn ra ngày càng nhiều. Nó có thể biến nơi làm việc thành môi trường độc hại, gây ám ảnh tâm lý cho người bị quấy rối tình dục. Nhằm đảm bảo kịp thời ngăn chặn, xử lý hành vi quấy rối tình dục tại nơi làm việc, pháp luật lao động đã quy định cụ thể về trách nhiệm, nghĩa vụ phòng chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc của người lao động. Theo đó, bài viết sau đây của Luật Hoàng Anh sẽ trình bày về nội dung này.
- Bộ Luật lao động số 45/2019/QH14 ngày 20 tháng 11 năm 2019 (Bộ Luật lao động 2019);
- Nghị định số 145/2020/NĐ-CP của Chính phủ ngày 14 tháng 12 năm 2020 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của bộ luật lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động.
- Nghị đinh số 12/2022/NĐ-CP của Chính phủ ngày 17 tháng 01 năm 2022 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, người lao độnng Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.
Khoản 9 Điều 3 Bộ Luật lao động 2019 quy định về quấy rối tình dục tại nơi làm việc như sau:
Quấy rối tình dục tại nơi làm việc là hành vi có tính chất tình dục của bất kỳ người nào đối với người khác tại nơi làm việc mà không được người đó mong muốn hoặc chấp nhận. Nơi làm việc là bất kỳ nơi nào mà người lao động thực tế làm việc theo thỏa thuận hoặc phân công của người sử dụng lao động.
Có 03 tiêu chí để xác định hành vi quấy rối tình dục tại nơi làm việc, đó là: (i) có tính chất tình dục, (ii) không được người đó mong muốn hoặc chấp nhận; (iii) tại nơi làm việc. Quấy rối tình dục có thể xảy ra dưới dạng trao đổi như đề nghị, yêu cầu, gợi ý, đe dọa, ép buộc đổi quan hệ tình dục lấy bất kỳ lợi ích nào liên quan đến công việc; hoặc những hành vi có tính chất tình dục không nhằm mục đích trao đổi, nhưng khiến môi trường làm việc trở nên khó chịu và bất an, gây tổn hại về thể chất, tinh thần, hiệu quả công việc và cuộc sống của người bị quấy rối.
Pháp luật lao động Việt Nam cũng đưa ra 03 hình thức cơ bản của quấy rối tình dục bao gồm hành vi mang tính thể chất, quấy rối tình dục bằng lời nói và quấy rối tình dục phi lời nói.
.Căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 84 Nghị định số 145/2020/NĐ-CP của Chính phủ
Nơi làm việc quy định tại khoản 9 Điều 3 của Bộ luật Lao động là bất cứ địa điểm nào mà người lao động thực tế làm việc theo thỏa thuận hoặc phân công của người sử dụng lao động, bao gồm cả những địa điểm hay không gian có liên quan đến công việc như các hoạt động xã hội, hội thảo, tập huấn, chuyến đi công tác chính thức, bữa ăn, hội thoại trên điện thoại, các hoạt động giao tiếp qua phương tiện điện tử, phương tiện đi lại do người sử dụng lao động bố trí từ nơi ở đến nơi làm việc và ngược lại, nơi ở do người sử dụng lao động cung cấp và địa điểm khác do người sử dụng lao động quy định.
Có thể thấy khái niệm nơi làm việc đã được quy định một cách khá đầy đủ và bao quát. Bởi trên thực tế các vụ quấy rối tình dục thường xuyên xảy ra ở những nơi không phải là nơi làm việc hàng ngày, thương xuyên của người lao động mà là những địa điểm khác như trên ô tô di chuyển, tại sự kiện.... Hơn thế nữa, hành vi quấy rối tình dục cũng có thể diễn ra ngoài giờ làm việc và trên không gian mạng nhưng vẫn liên quan đến công việc.
Theo quy định tại Khoản 2 Điều 84 Nghị định 145/2020/NĐ-CP thì các hành vi thuộc hành vi quấy rối tình dục tại nơi làm việc, bao gồm:
- Thứ nhất, hành vi mang tính thể chất gồm hành động, cử chỉ, tiếp xúc, tác động vào cơ thể mang tính tình dục hoặc gợi ý tình dục. Đây là những hành vi thể hiện qua các cử chỉ và hành động có sự động chạm, tiếp xúc vào cơ thể, mà các cử chỉ và hành động đó hướng tối tình dục. Đây được gọi là hành vi quấy rối tình dục mang tính thể chất, tác động trực tiếp đến cơ thể và tâm lý của nạn nhân. Theo quy định này, hành vi mang tính thể chất đã được liệt kê khá cụ thể là các hành động, cử chỉ có sự tiếp xúc và tác động vào cơ thể nạn nhân. Tuy nhiên. thuật ngữ "mang tính tình dục" nhằm miêu tả bản chất của hành động, cử chỉ đó lại chưa được pháp luật quy định cụ thể, dẫn đến những khó khăn nhất định cho các doanh nghiệp khi xác định hành vi.
-Thứ hai, quấy rối tình dục bằng lời nói gồm lời nói trực tiếp, qua điện thoại hoặc qua phương tiện điện tử có nội dung tình dục hoặc có ngụ ý tình dục. Đây là một hình thức quấy rối xuất hiện khá nhiều trong mỗi trường công sở, nhưng phần lớn mọi người không thừa nhận hoặc không biết mà không có phản ứng do tâm lý e ngại, sợ mấy lòng. Khác với hành vi quấy rối thể chất, quấy rối tình dục bằng lời nói không có sự tiếp xúc hay tác động trực tiếp vào cơ thể nhưng nó cũng có thể gây cho nạn nhân những cảm giác tiêu cực như cảm thấy khó chịu, buồ tủi, sợ hãi, ám ảnh. Không chỉ dừng lại ở lời nói trực tiếp mà Bộ Luật lao động 2019 đã quy định mở rộng bao gồm cả lời nói qua điện thoại, lời thể thể hiện bằng văn bản qua phương tiện điện tử như điện thoại di động, email máy tính... mang nội dung tình dục hoặc ngụ ý tình dục.
- Thứ ba, quấy rối tình dục phi lời nói gồm ngôn ngữ cơ thể; trưng bày, miêu tả tài liệu trực quan về tình dục hoặc liên quan đến hoạt động tình dục trực tiếp hoặc qua phương tiện điện tử. Hành vi quấy rối tình dục này cũng không có sự tiếp xúc giữa người quấy rối và người bị quấy rối. Ngôn ngữ cơ thể của người quấy rối tình dục được hiểu là những hành động mang tính khiêu khích, không đứng đắn... Bên cạnh đó, việc phô bày những tài liệu, videp, vật thể, tạp thể ....liên quan đến tình dục cũng được coi là quấy rối tình dục phi lời nói.
Theo Khoản 2 Điều 86 Nghị định số 145/2020/NĐ-CP của Chính phủ, người lao động có 03 nghĩa vụ cơ bản trong phòng chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc, bao gồm:
Các quy định về phòng, chống quấy rối tình dục bao gồm các quy định của pháp luật về lao động (Bộ luật lao động 2019, Nghị định 145/2020/NĐ-CP của Chính phủ), hình sự (Bộ luật hình sự năm 2015), hành chính (Nghị định số 167/2013/NĐ-CP) liên quan đến hành vi quấy rối tình dục tại nơi làm việc, cùng các quy định tại nơi làm việc như nội quy làm việc, quy chế làm việc hoặc thậm chí thỏa ước lao động tập thể.
Người lao động phải nắm rõ bản thân có quyền và nghĩa vụ thông báo cho người sử dụng lao động và các cơ quan có thẩm quyền khi bị quấy rối tình dục tại nơi làm việc cũng như không thực hiện các hành vi bị pháp luật, quy định tại nơi làm việc nghiêm cấm. Các hành vi trái luật có thể dẫn đến trách nhiệm xử lý vi phạm hành chính, trách nhiệm xử lý hình sự, các hành vi trái với quy định trong nội quy lao động, thỏa ước lao động (hành vi quấy rối tình dục tại nơi làm việc) dẫn tới xử lý kỷ luật người lao động.
Nếu người sử dụng lao động và tổ chức đại diện người lao động đều có nhiệm vụ tuyên truyền, giáo dục người lao động tham gia phòng chống quấy rối tình dục nói chung và quấy rối tình dục tại nơi làm việc nói riêng thì người lao động có trách nhiệm phối hợp với 02 chủ thể trên, xây dựng môi trường làm việc không có quấy rối tình dục bằng cách:
- Tuân thủ pháp luật, không có hành vi quấy rối tình dục tại nơi làm việc
- Khiếu nại, tố cáo hành vi quấy rối tình dục tại nơi làm việc
- Tuyên truyền cho mọi người tại nơi làm việc biết về việc phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc
Đây là quyền và cũng là nghĩa vụ của người lao động. Người lao động có trách nhiệm như sau:
- Ngăn cản hành vi quấy rối tình dục tại nơi làm việc thông qua hoạt động khiếu nại, tố cáo người có hành vi quấy rối tình dục tại nơi làm việc, ngăn cản trực tiếp bằng hành vi cụ thể như đẩy, kéo, đưa nạn nhân tránh xa khỏi người có hành vi quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Nếu người lao động bị quấy rối tình dục thì có thể tự vệ chính đáng. Việc ngăn cản có thể được thực hiện khi hành vi đang diễn ra, đã diễn ra, nhưng cũng có thể được thực hiện khi hành vi chưa diễn ra mà chỉ có dấu hiệu. Nhưng trong trường hợp mới chỉ có dấu hiệu hành vi, các biện pháp ngăn cản không được quá gay gắt.
- Việc tố cáo hành vi quấy rối tình dục là việc bảo vệ chính bản thân và những người xung quanh của người lao động, cũng như đảm bảo môi trường làm việc thoải mái, an toàn cho cả người lao động và người sử dụng lao động. Vì vậy khi xảy ra quấy rối tình dục tại nơi làm việc dù với người lao động hay không thì vẫn có trách nhiệm tố cáo.
Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 85 Nghị đính ố 145/2020/NĐ-CP của Chính phủ, Quy định của người sử dụng lao động về phòng, chống quấy rối tình dục trong nội quy lao động hoặc bằng phụ lục ban hành kèm theo nội quy lao động, bao gồm các nội dung cơ bản sau:
- Nghiêm cấm hành vi quấy rối tình dục tại nơi làm việc;
- Quy định chi tiết, cụ thể về các hành vi quấy rối tình dục tại nơi làm việc phù hợp với tính chất, đặc điểm của công việc và nơi làm việc;
- Trách nhiệm, thời hạn, trình tự, thủ tục xử lý nội bộ đối với hành vi quấy rối tình dục tại nơi làm việc, bao gồm cả trách nhiệm, thời hạn, trình tự, thủ tục khiếu nại, tố cáo, giải quyết khiếu nại, tố cáo và các quy định có liên quan;
- Hình thức xử lý kỷ luật lao động đối với người thực hiện hành vi quấy rối tình dục hoặc người tố cáo sai sự thật tương ứng với tính chất, mức độ của hành vi vi phạm;
- Bồi thường thiệt hại cho nạn nhân và các biện pháp khắc phục hậu quả.
Khoản 3 Điều 11 Nghị định số 12/2022/NĐ-CP của Chính phủ quy định như sau:
Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi quấy rối tình dục tại nơi làm việc nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
Theo đó, người có hành vi quấy rối tình dục tại nơi làm việc nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự có thể bị phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
Bên cạnh đó, căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 125 Bộ Luật lao động 2019 thì người có hành vi quấy rối tình dục nơi làm việc còn có thể bị áp dụng hình thức xử lý kỷ luật sa thải.
Về truy cứu hình sự hành vi quấy rối tình dục nơi làm việc chưa được Bộ luật Hình sự quy định cụ thể. Tuy nhiên, nếu chứng minh được hành vi quấy rối tình dục đã xúc phạm nghiêm trọng đến nhân phẩm; danh dự người khác; thì người thực hiện hành vi này có thể bị xử lý hình sự về: Tội làm nhục người khác theo Điều 155 Bộ luật Hình sự như sau:
1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm; danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo; phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng; hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:
a) Phạm tội 02 lần trở lên;
b) Đối với 02 người trở lên;
c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
…
g) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:a) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên;
b) Làm nạn nhân tự sát.
4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ; cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Luật Hoàng Anh
Luật sư NGUYỄN ĐÌNH HIỆP - Những con số biết nói
Với 20 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực tư vấn pháp lý, Luật sư Nguyễn Đình Hiệp có sự am hiểu sâu sắc hệ thống pháp luật Việt Nam và triển khai thành công rất nhiều các vụ việc như:
2
Tư vấn mở chuỗi kinh doanh nhượng quyền thương mại
2
Tư vấn cấp Giấy phép viễn thông cho doanh nghiệp Việt Nam
8
Tư vấn pháp lý thường xuyên cho các doanh nghiệp Việt Nam, Trung Quốc, Hàn Quốc. Tiêu biểu như Công ty CP Tập đoàn Bình Minh, Công ty CP DV Viễn thông Hải Phòng
10
Tư vấn, xử lý thu hồi công nợ và khởi kiện/khởi tố các đối tượng có nợ khó đòi
10
Tư vấn pháp lý đầu tư, giấy phép, chuyển nhượng các dự án khoáng sản. Tiêu biểu như Dự án khai thác Khoáng sản của Công ty khoáng sản An Vượng tại huyện Đà Bắc tỉnh Hoà Bình (50ha).
15
Tư vấn pháp lý dự án đầu tư mở rộng sản xuất. Tiêu biểu như Dự án sản xuất 50 triệu sản phẩm điện tử thanh toán Công ty TNHH ST Vina (Hàn Quốc); Dự án mở rộng quy mô sản xuất của Công ty TNHH RFTech Việt Nam lên 20 triệu đô la Mỹ;
20
Tư vấn hợp đồng chuyển giao công nghệ và thực hiện thủ tục đăng ký hợp đồng chuyển giao công nghệ (hầu hết là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài)
20
Tư vấn pháp lý dự án đầu tư bất động sản. Tiêu biểu như Dự án khu nghỉ dưỡng tại Vịnh Lan Hạ, thành phố Hải Phòng (30ha); Khu du lịch sinh thái và nghỉ dưỡng Avana Mai Chau Hideway, tỉnh Hòa Bình (32ha)
30
Tư vấn, thành lập các doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trong các lĩnh vực. Tiêu biểu như Dự án nhà máy sản xuất của Công ty Mass Well Limited, Công ty Modern Shine Limited tại Trung tâm công nghiệp GNP Yên Bình
300
Tư vấn hồ sơ công bố sản phẩm, hồ sơ phòng cháy chữa cháy, hồ sơ an toàn vệ sinh thực phẩm, đăng ký mã số mã vạch, đăng ký/thông báo website…
500
Tư vấn bảo hộ nhãn hiệu (thương hiệu), quyền tác giả, sáng chế
700
Tư vấn, thực hiện các thủ tục, giấy phép con như: Giấy phép lao động cho người nước ngoài, cấp phép tạm trú cho người nước ngoài, Giấy phép trung tâm ngoại ngữ, Giấy phép ngành dược, Giấy phép quảng cáo…
2000
Tư vấn, thành lập các doanh nghiệp mới, chi nhánh, văn phòng đại diện trên cả nước; các thủ tục thay đổi đăng ký doanh nghiệp trên cả nước
3000
Tư vấn các vụ việc ly hôn, chia tài sản, quyền nuôi con; chia thừa kế; tranh chấp đất đai; tố tụng dân sự, tố tụng hình sự và tố tụng hành chính.
Để nhận tin tức và quà tặng từ Luật Hoàng Anh