Trợ cấp mất việc làm là gì và được quy định như thế nào trong Bộ luật lao động năm 2019?

Khi người lao động chấm dứt hợp đồng lao động thường quan tâm đến trợ cấp thôi việc và trợ cấp mất việc làm. Nhiều người có nhầm lẫn rằng trợ cấp mất việc làm là trợ cấp thôi việc. Trên thực tế, trợ cấp mất việc làm là một loại trợ cấp riêng khác với trợ cấp thôi việc. Vậy trợ cấp mất việc làm là gì, trường hợp nào thì được nhận trợ cấp mất việc làm? Cách tính trợ cấp mất việc làm như thế nào? Sau đây Luật Hoàng Anh xin trình bày về vấn đề này.

I. Khái niệm trợ cấp mất việc làm

Theo Khoản 1 Điều 47 Bộ luật lao động số 45/2019/QH14 ngày 20/11/2019, trợ cấp mất việc làm là khoản tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động đã làm việc thường xuyên cho mình từ đủ 12 tháng trở lên trong trường hợp người sử dụng lao động cho người lao động thôi việc khi người sử dụng lao động:

- Thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế: Trường hợp này được quy định tại Điều 42 Bộ luật lao động năm 2019, bao gồm thay đổi cơ cấu, công nghệ (Thay đổi cơ cấu tổ chức, tổ chức lại lao động; Thay đổi quy trình, công nghệ, máy móc, thiết bị sản xuất, kinh doanh gắn với ngành, nghề sản xuất, kinh doanh của người sử dụng lao động; Thay đổi sản phẩm hoặc cơ cấu sản phẩm) và vì lý do kinh tế (Khủng hoảng hoặc suy thoái kinh tế; Thực hiện chính sách, pháp luật của Nhà nước khi cơ cấu lại nền kinh tế hoặc thực hiện cam kết quốc tế). Đây là các trường hợp người sử dụng lao động không phải là cá nhân, và sự thay đổi là bắt buộc để phát triển hoặc giải quyết tình thế. Khi đó, người sử dụng lao động nếu không giải quyết được vấn đề việc làm, ngay cả khi đã xây dựng đến phương án sử dụng người lao động, thì phải cho người lao động thôi việc và trả trợ cấp mất việc làm.

- Chia, tách, hợp nhất, sáp nhập; bán, cho thuê, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp; chuyển nhượng quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã: Trường hợp này được quy định tại Điều 43 Bộ luật lao động năm 2019. Đây là trường hợp người sử dụng lao động không phải là cá nhân, khi có các hoạt động chia, tách, hợp nhất, sáp nhập,... người sử dụng lao động không còn là chủ thể ban đầu trong quan hệ lao động với người lao động nữa. Người sử dụng lao động mới có thể sắp xếp cho người lao động tiếp tục thực hiện công việc, nhưng nếu không thể bố trí cho người lao động, người sử dụng lao động phải cho người lao động thôi việc và trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động.

Ở cả hai trường hợp này, người lao động đều không có lỗi khi bị cho thôi việc, đồng thời việc người sử dụng lao động cho người lao động thôi việc là hệ quả tất yếu trong hoàn cảnh khách quan về kinh tế, kỹ thuật mà người sử dụng lao động không thể làm gì khác. Do vậy, trợ cấp mất việc là khoản tiền bù đắp cho người lao động khi đột nhiên mất việc do hoàn cảnh khách quan, điều đó dẫn tới sự khác biệt giữa trợ cấp mất việc làm và trợ cấp thôi việc. Đây cũng là một khoản trợ cấp không tính vào thu nhập phải chịu thuế thu nhập cá nhân theo Luật thuế thu nhập cá nhân năm 2007, sửa đổi năm 2012.

II. Cách tính trợ cấp mất việc làm

Theo Khoản 1 Điều 47 Bộ luật lao động năm 2019, tiền trợ cấp lao động được trả theo cách tính mỗi năm được 01 tháng tiền lương và không được thấp hơn 02 năm.

Tiền trợ cấp mất việc làm = Lương để tính trợ cấp mất việc x Thời gian để tính trợ cấp (không thấp hơn 02 năm)

Trong đó:

● Thời gian để tính trợ cấp là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm. (Theo Khoản 2 Điều 47 Bộ luật lao động năm 2019).

Thời gian để tính trợ cấp = Thời gian làm việc thực tế - (Thời gian tham gia bảo hiểm thất nghiệp + Thời gian làm việc đã được trả trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm)

- Thời gian làm việc thực tế không tương đồng với thời gian người lao động làm việc cho người sử dụng lao động, bao gồm: thời gian người lao động đã trực tiếp làm việc; thời gian thử việc; thời gian được người sử dụng lao động cử đi học; thời gian nghỉ hưởng chế độ ốm đau, thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội; thời gian nghỉ việc để điều trị, phục hồi chức năng lao động khi bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp mà được người sử dụng lao động trả lương theo quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động; thời gian nghỉ việc để thực hiện nghĩa vụ công dân theo quy định của pháp luật mà được người sử dụng lao động trả lương; thời gian ngừng việc không do lỗi của người lao động; thời gian nghỉ hằng tuần; nghỉ việc hưởng nguyên lương; thời gian thực hiện nhiệm vụ của tổ chức đại diện người lao động; thời gian bị tạm đình chỉ công việc (Theo Điểm a Khoản a Điều 8 Nghị định số 145/2020/NĐ-CP). Ngoài các trường hợp trên, các khoảng thời gian khác không được coi là thời gian làm việc thực tế, nên có thể xảy ra trường hợp người lao động làm việc từ đủ 12 tháng cho người sử dụng lao động nhưng thời gian làm việc thực tế không đủ 24 tháng (02 năm). Trong trường hợp này, thời gian làm việc để tính trợ cấp được làm tròn thành 02 năm, tức người lao động sẽ nhận được khoản tiền trợ cấp bằng 02 tháng tiền lương.

- Thời gian tham gia bảo hiểm thất nghiệp bao gồm: thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật và thời gian người lao động thuộc diện không phải tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật nhưng được người sử dụng lao động chi trả cùng với tiền lương của người lao động một khoản tiền tương đương với mức người sử dụng lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động theo quy định của pháp luật về lao động, bảo hiểm thất nghiệp. Thời gian này là thời gian mà người sử dụng lao động đã đóng bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động (Theo Điểm b Khoản 3 Điều 8 Nghị định số 145/NĐ-CP ngày 14/12/2020). Điều đó có nghĩa thời gian tham gia bảo hiểm thất nghiệp của người lao động có thể dài bằng thời gian làm việc thực tế của người lao động. Tuy nhiên, do thời gian để tính trợ cấp mất việc làm không thấp hơn 02 năm nên kể cả khi thời gian làm việc thực tế trừ thời gian tham gia bảo hiểm có kết quả dưới 02 năm thì thời gian tính trợ cấp vẫn được làm tròn lên 02 năm.

- Thời gian làm việc đã được trả trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm là thời gian người là thời gian đã được chi trả trợ cấp thôi việc, mất việc làm, thì không tính vào thời gian tính trợ cấp mất việc làm lần nữa. Tức thời gian tính trợ cấp thôi việc chỉ tính trợ cấp mất việc làm 01 lần và không đồng thời tính thời gian tính trợ cấp thôi việc và thời gian tính trợ cấp mất việc làm.

Tiền lương để tính trợ cấp mất việc làm là tiền lương bình quân của 06 tháng liền kề theo hợp đồng lao động trước khi người lao động mất việc làm. (Theo Khoản 3 Điều 47 Bộ luật lao động năm 2019)

Tiền lương để tính trợ cấp mất việc làm = (Tiền lương tháng thứ 01 trước khi người lao động thôi việc +…+ Tiền lương tháng thứ 06 trước khi người lao động thôi việc)/6

Tiền lương này bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác. Vì mức lương có thể không ổn định qua các tháng tùy vào trách nhiệm kỷ luật với người lao động hay tăng lương theo thỏa thuận của người sử dụng lao động và người lao động, dẫn đến tiền lương qua các tháng có thể không bằng nhau, nên tiền lương để tính trợ cấp mất việc làm là trung bình của 06 gần nhất với thời điểm người lao động bị cho thôi việc, việc tính trung bình này cũng được thực hiện nếu trong 06 tháng này người sử dụng lao động và người lao động thực hiện nhiều hợp đồng lao động liền kề, trước khi chấm dứt hợp đồng lao động cuối cùng. Nếu hợp đồng lao động cuối cùng bị vô hiệu do tiền lương thấp hơn mức tối thiểu vùng hoặc mức lương ghi trong thỏa ước lao động tập thể thì người sử dụng lao động và người lao động thỏa thuận về mức lương nhưng không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng hay mức lương theo thỏa ước lao động tập thể.

Như vậy, trợ cấp mất việc làm không phải là trợ cấp thôi việc, được Bộ luật lao động năm 2019 và Nghị định số 145/2020/NĐ-CP ngày 14/12/2020 quy định tương đối chi tiết, rõ ràng về khái niệm và cách tính.

Luật Hoàng Anh

 

Tổng đài tư vấn pháp luật

0908 308 123
Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

0908 308 123

luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động thể hiện như thế nào trong Bộ luật lao động năm 2019?

Hỏi đáp luật Lao động 29/06/2021

Bài viết giải thích về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động thể hiện như thế nào trong Bộ luật lao động năm 2019

Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng của người sử dụng lao động được thể hiện như thế nào trong Bộ luật lao động năm 2019?

Hỏi đáp luật Lao động 29/06/2021

Bài viết giải thích về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng của người sử dụng lao động được thể hiện như thế nào trong Bộ luật lao động năm 2019

Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật là gì? Nghĩa vụ của người đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật như thế nào?

Hỏi đáp luật Lao động 29/06/2021

Các trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật, nghĩa vụ khi đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật

Trợ cấp thôi việc là gì? Cách tính trợ cấp thôi việc như thế nào?

Hỏi đáp luật Lao động 29/06/2021

Bài viết giải thích về khái niệm và cách tính trợ cấp thôi việc