Xử lý vi phạm pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động như thế nào?

Theo quy định tại Điều 90 Luật an toàn, vệ sinh lao động số 84/2015/QH13 ngày 25/06/2015, về cơ bản có 02 phương thức xử lý vi phạm pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động.

1. Xử lý vi phạm hành chính

Đây là phương thức xử lý vi phạm phổ biến nhất đối với các vi phạm pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động

a. Đối với các chủ thể có liên quan đến hoạt động đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động nói chung

Theo Khoản 1 Điều 90 Luật an toàn, vệ sinh lao động số 84/2015/QH13 ngày 25/06/2015, người nào có vi phạm pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, đối với mức độ vi phạm nhẹ hơn, tính chất nguy hiểm cho các chủ thể khác cũng không cao thì chỉ bị xử lý vi phạm hành chính.

Theo Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 28/2020/NĐ-CP ngày 01/03/2020 của Chính phủ, các hình thức chính khi xử lý vi phạm hành chính bao gồm:

- Cảnh cáo

- Phạt tiền

Ngoài ra, cũng dựa vào Khoản 2 Điều 3 và Điều 4 Nghị định số 28/2020/NĐ-CP ngày 01/03/2020 của Chính phủ, có 12 biện pháp xử lý vi phạm hành chính bổ sung và 51 biện pháp khắc phục hậu quả có thể áp dụng nếu các chủ thể có hành vi phạm về an toàn, vệ sinh lao động nói riêng và các quy định về lao động nói chung.

Ví dụ: Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với người lao động có hành vi không báo cáo kịp thời với người có trách nhiệm khi phát hiện nguy cơ xảy ra sự cố kỹ thuật gây mất an toàn, vệ sinh lao động, tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp (Khoản 1 Điều 19 Nghị định số 28/2020/NĐ-CP ngày 01/03/2020 của Chính phủ).

b, Đối với người sử dụng lao động

Người sử dụng lao động cũng là một trong các chủ thể bị xử lý vi phạm hành chính trong trường hợp trên. Tuy nhiên cần chú ý ngoài bị xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, người sử dụng lao động còn có thể bị xử lý hành chính trong các lĩnh vực khác. Theo Khoản 3 Điều 90 Luật an toàn, vệ sinh lao động số 84/2015/QH13 ngày 25/06/2015, người sử dụng lao động có hành vi trốn đóng, chậm đóng, chậm đóng bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, chiếm dụng tiền đóng, hưởng bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp từ 30 ngày trở lên thì ngoài việc phải đóng đủ số tiền chưa đóng, chậm đóng và bị xử lý theo quy định của pháp luật còn phải nộp số tiền lãi bằng hai lần mức lãi suất đầu tư Quỹ bảo hiểm xã hội bình quân của năm trước liền kề tính trên số tiền, thời gian chậm đóng; nếu không thực hiện thì theo yêu cầu của người có thẩm quyền, ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà nước có trách nhiệm trích từ tài khoản tiền gửi của người sử dụng lao động để nộp số tiền chưa đóng, chậm đóng và lãi của số tiền này vào tài khoản của cơ quan bảo hiểm xã hội.

2. Truy cứu trách nhiệm hình sự

Trong các trường hợp trên, nếu hành vi vi phạm có dấu hiệu khách quan của tội phạm, các chủ thể bị xử lý hình sự, truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.

Ngoài ra, đối với người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn vi phạm quy định của Luật này, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm lớn, gây nguy hiểm cho xã hội thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Ngoài ra, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật

3. Xử lý kỷ luật

Người lao động trong trường hợp có vi phạm nghiêm trọng pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động mà hành vi đó được quy định trong nội quy lao động, hoặc hợp đồng lao động và các văn bản thỏa thuận khác giữa người lao động và người sử dụng lao động thì cũng bị xử lý kỷ luật.

Trong trường hợp người lợi dụng chức vụ, quyền hạn vi phạm quy định của Luật an toàn, vệ sinh lao động, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, có thể bị xử lý kỷ luật theo quy định của pháp luật.

Luật Hoàng Anh

CAM KẾT DỊCH VỤ
  • Đồng hành cùng Thân chủ.
  • Phương án tốt, giải pháp hay.
  • Bảo mật - Uy tín - Tin cậy - Chi phí thấp - Hiệu quả cao.
  • Dịch vụ pháp lý tốt số 2 tại Việt Nam.
  • Cam kết HOÀN TIỀN nếu thực hiện dịch vụ không thành công.

Cảm ơn quý vị và các bạn đã tin tưởng Luật Hoàng Anh, nếu có thắc mắc muốn giải đáp hãy liên hệ ngay cho chúng tôi.

Tổng đài tư vấn pháp luật

Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Dịch vụ Luật Sư uy tín hàng đầu tại Hà Nội.

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

Email: luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Quyền của người lao động liên quan đến bảo hiểm xã hội như thế nào? (Phần 1)

Hỏi đáp Bảo hiểm xã hội 23/07/2021

Bài viết giải thích về quyền của người lao động liên quan đến bảo hiểm xã hội

Quyền của người lao động liên quan đến bảo hiểm xã hội như thế nào? (Phần 2)

Hỏi đáp Bảo hiểm xã hội 23/07/2021

Bài viết giải thích về quyền của người lao động liên quan đến bảo hiểm xã hội

Các trường hợp nào người lao động phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc? (Phần 1)

Hỏi đáp Bảo hiểm xã hội 23/07/2021

Bài viết giải thích về các trường hợp nào người lao động phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc

Các trường hợp nào người lao động phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc? (Phần 2)

Hỏi đáp Bảo hiểm xã hội 23/07/2021

Bài viết giải thích về các trường hợp người lao động phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc

Trách nhiệm của người lao động liên quan đến bảo hiểm xã hội như thế nào?

Hỏi đáp Bảo hiểm xã hội 23/07/2021

Bài viết giải thích về trách nhiệm của người lao động liên quan đến bảo hiểm xã hội

Quyền của người sử dụng lao động liên quan đến bảo hiểm lao động như thế nào?

Hỏi đáp Bảo hiểm xã hội 23/07/2021

Bài viết giải thích về quyền của người sử dụng lao động liên quan đến bảo hiểm lao động

Trách nhiệm của người sử dụng lao động liên quan đến bảo hiểm xã hội như thế nào? (Phần 1)

Hỏi đáp Bảo hiểm xã hội 23/07/2021

Bài viết giải thích về trách nhiệm của người sử dụng lao động liên quan đến bảo hiểm xã hội

Trách nhiệm của người sử dụng lao động liên quan đến bảo hiểm xã hội như thế nào? (Phần 2)

Hỏi đáp Bảo hiểm xã hội 23/07/2021

Bài viết giải thích về trách nhiệm của người sử dụng lao động liên quan đến bảo hiểm xã hội