Xử lý vi phạm trong lĩnh vực lao động theo quy định của Bộ luật lao động năm 2019 như thế nào?

Trong bất kỳ lĩnh vực nào cũng có thể xảy ra vi phạm pháp luật, lĩnh vực lao động cũng không là ngoại lệ. Bộ luật lao động năm 2019 có các quy định cụ thể về các vi phạm liên quan đến lao động. Vậy, xử lý vi phạm trong lĩnh vực lao động theo quy định của Bộ luật lao động năm 2019 như thế nào? Sau đây Luật Hoàng Anh xin trình bày về vấn đề này.

1. Đối với các trường hợp vi phạm trong lĩnh vực lao động nói chung

Các chủ thể trong quan hệ lao động bao gồm người lao động, người sử dụng lao động, tổ chức đại diện người lao động và tổ chức đại diện người sử dụng lao động. Trong trường hợp một trong các chủ thể này có vi phạm pháp luật về lao động, theo Khoản 1 Điều 217 Bộ luật lao động số 45/2019/QH14 ngày 20/11/2019, thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu có gây thiệt hại thì phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.

Ví dụ: Người sử dụng lao động có hành vi quấy rối tình dục người lao động tại nơi làm việc. Ở mức độ nhẹ, người này có thể bị xử phạt vi phạm hành chính từ 100.000 đến 200.000 Đồng (theo Điểm a Khoản 1 Điều 5 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ. Ở mức độ nặng hơn, người này có thể bị xử lý hình sự với tội hiếp dâm, cưỡng dâm và nhiều tội khác về xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người tùy theo hành vi khách quan cụ thể, các yếu tố khách quan và các yếu tố chủ quan, chủ thể, khách thể khác.

Đối với riêng người lao động, nếu có vi phạm pháp luật thì ngoài bị xử lý hành chính hoặc xử lý hình sự, người này còn có thể phải chịu xử lý kỷ luật lao động (khiển trách, kéo dài thời hạn nâng lương, cách chức, sa thải), việc xử lý kỷ luật lao động căn cứ theo quy định của pháp luật về lao động cũng như nội quy lao động mà người sử dụng lao động đã xây dựng dưới sự cho ý kiến tham khảo của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở.

Ví dụ: Người lao động có hành vi trộm cắp tài sản của người sử dụng lao động với giá trị tài sản hơn 2.000.000 Đồng, người lao động có thể bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm do hành vi của mình khi bị xét xử (Theo Điều 173 Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 ngày 27/11/2015 sửa đổi năm 2017). Tuy nhiên, người sử dụng lao động cũng có thể căn cứ vào hành vi trộm cắp của người lao động để tổ chức xử lý kỷ luật người lao động, cụ thể với hình thức kỷ luật là sa thải, theo căn cứ tại Khoản 1 Điều 125 Bộ luật lao động số 45/2019/QH14 ngày 20/11/2019 và theo nội quy lao động mà người sử dụng lao động đã xây dựng.

2. Đối với các trường hợp vi phạm liên quan đến đình công

1.1. Đình công bất hợp pháp

Theo Khoản 2 Điều 217 Bộ luật lao động số 45/2019/QH14 ngày 20/11/2019, khi Tòa án có quyết định xác định cuộc đình công là bất hợp pháp thì người lao động đang tham gia đình công phải ngừng ngay đình công và trở lại làm việc. Nếu người lao động không ngừng đình không thì tùy theo mức độ vi phạm có thể bị xử lý kỷ luật lao động. Nếu người lao động có hành vi vi phạm pháp luật dẫn đến cuộc đình công bất hợp pháp thì người lao động có thể bị xử lý hành chính hoặc hình sự tùy thuộc vào mức độ thực hiện hành vi của mình.

Đồng thời, nếu cuộc đình công gây thiệt hại cho người sử dụng lao động thì tổ chức đại diện người lao động lãnh đạo đình công có trách nhiệm phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật cho người sử dụng lao động. Tuy nhiên nếu trong trường hợp cá nhân người lao động gây ra thiệt hại cho người sử dụng trong thời gian đình công mà không có sự chỉ đạo của tổ chức đại diện người lao động, cũng không phải do đình công, thì người lao động vẫn phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Ví dụ: Trong thời gian đình công, một người lao động tự ý đến nơi làm việc đập phá máy móc vì tư thù với người sử dụng lao động, thì người này phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người sử dụng lao động.

1.2. Các hành vi gây tổn hại cho xã hội trong quá trình đình công

Theo Khoản 3 Điều 217 Bộ luật lao động số 45/2019/QH14 ngày 20/11/2019, trong trường hợp các hành vi sau:

- Gây mất trật tự, an toàn công cộng

- Làm tổn hại máy, thiết bị, tài sản của người sử dụng lao động

- Cản trở thực hiện quyền đình công

- Kích động, lôi kéo, ép buộc người lao động đình công

- Trù dập, trả thù người tham gia đình công, người lãnh đạo cuộc đình công

Đây là các trường hợp bị cấm trước, trong và sau đình công tại Điều 208 Bộ luật lao động số 45/2019/QH14 ngày 20/11/2019. Khi bất kỳ chủ thể nào bao gồm người lao động, người sử dụng lao động hoặc tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở thuộc một trong các trường hợp trên, đều bị xử lý vi phạm hành chính hoặc xử lý hình sự tùy theo mức độ vi phạm.

Luật Hoàng Anh

 

Tổng đài tư vấn pháp luật

0908 308 123
Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

0908 308 123

luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Phạm vi điều chỉnh của Luật an toàn, vệ sinh lao động năm 2015 là gì?

Hỏi đáp luật Lao động 14/06/2021

Bài viết này giải thích về phạm vi điều chỉnh của Luật an toàn, vệ sinh lao động năm 2015

Phụ lục hợp đồng lao động là gì theo Bộ luật lao động năm 2019?

Hỏi đáp luật Lao động 14/06/2021

Bài viết này giải thích về phụ lục hợp đồng lao động theo Bộ luật lao động năm 2019

Khái niệm phân biệt đối xử trong Bộ luật lao động năm 2019 là gì?

Hỏi đáp luật Lao động 14/06/2021

Bài viết giải thích về khái niệm phân biệt đối xử trong lao động

Cưỡng bức lao động là gì? Xử lý như thế nào đối với người sử dụng lao động cưỡng bức lao động?

Hỏi đáp luật Lao động 14/06/2021

Bài viết giải thích về khái niệm cưỡng bức lao động, xử lý đối với người sử dụng lao động cưỡng bức lao động