Quy định về thanh tra lại trong hoạt động thanh tra thuế?

Hoạt động thanh tra thuế theo quy định tại Luật quản lý thuế năm 2019 nhằm mục đích đánh giá các hoạt động của người nộp thuế, giải quyết khiếu nại, tố cáo, thực hiện các biện pháp phòng, chống tham nhũng,… Tuy nhiên có nhiều trường hợp cần thiết phải thực hiện thanh tra lại. Hãy cùng chúng tôi tìm hiểu sâu hơn trong bài viết sau đây.

1. Các trường hợp thanh tra lại

Căn cứ theo Khoản 2 Điều 120 Luật Quản lý thuế năm 2019, có các căn cứ sau đây thì thực hiện việc thanh tra lại:

- Có vi phạm nghiêm trọng về trình tự, thủ tục trong quá trình tiến hành thanh tra.

Khi tiến hành thanh tra thuế, thủ trưởng cơ quan quản lý thuế ban hành quyết định thanh tra và gửi đến đối tượng bị thanh tra thuế. Nội dung cũng như thời gian thanh tra được ghi rõ trong quyết định. Theo đó, cần thực hiện đúng theo trình tự đã được thông báo.

- Có sai lầm trong việc áp dụng pháp luật khi kết luận thanh tra.

Kết luận thanh tra được quy định trong Điều 119 Luật Quản lý thuế năm 2019, bao gồm các nội dung chính là:

+ Đánh giá việc thực hiện pháp luật về thuế của đối tượng thanh tra thuộc nội dung thanh tra thuế.

+ Kết luận về nội dung được thanh tra thuế.

+ Xác định rõ tính chất, mức độ vi phạm, nguyên nhân, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm.

+ Xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.

Văn bản kết luận thanh tra được ra quyết định chậm nhất là 15 ngày kể từ ngày người ra quyết định thanh tra thuế nhận được báo cáo kết quả thanh tra thuế trừ trường hợp nội dung kết luận thanh tra phải chờ kết luận chuyên môn của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.

Đồng thời, Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày ký kết luận thanh tra lại, người ra quyết định thanh tra lại phải gửi kết luận thanh tra lại cho thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp, cơ quan thanh tra nhà nước cấp trên. Thêm vào đó là công khai kết luận thanh tra lại.

- Nội dung kết luận thanh tra không phù hợp với những chứng cứ thu thập được trong quá trình thanh tra hoặc có dấu hiệu rủi ro cao theo tiêu chí đánh giá rủi ro qua phân tích đánh giá rủi ro.

- Người ra quyết định thanh tra, trưởng đoàn thanh tra, thành viên đoàn thanh tra cố ý làm sai lệch hồ sơ vụ việc hoặc cố ý kết luận trái pháp luật.

Việc này vừa vi phạm nguyên tắc, đạo đức nghề nghiệp của người được Nhà nước tin tưởng giao phó nhiệm vụ, vừa ảnh hưởng, gây thiệt hại trực tiếp cho đối tượng bị thanh tra thuế.

- Có dấu hiệu vi phạm pháp luật nghiêm trọng của đối tượng thanh tra chưa được phát hiện đầy đủ qua thanh tra.

2. Thẩm quyền quyết định thanh tra lại

Thẩm quyền quyết định thanh tra lại vụ việc đã được kết luận nhưng phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật được quy định tại Khoản 1 Điều 120 Luật Quản lý thuế năm 2019 thuộc về các đối tượng sau:

- Chánh Thanh tra Bộ Tài chính quyết định thanh tra lại vụ việc đã được Tổng cục trưởng kết luận thuộc phạm vi, thẩm quyền quản lý nhà nước của Bộ Tài chính khi được Bộ trưởng Bộ Tài chính giao.

- Tổng cục trưởng quyết định thanh tra lại vụ việc đã được Cục trưởng thuộc Tổng cục kết luận.

- Cục trưởng quyết định thanh tra lại vụ việc đã được Chi cục trưởng thuộc Cục kết luận.

3. Nội dung quyết định thanh tra lại

Quyết định thanh tra lại bao gồm các nội dung được quy định tại Điều 114 của Luật Quản lý thuế năm 2019

+ Căn cứ pháp lý để thanh tra lại việc thanh tra thuế.

+ Đối tượng, nội dung, phạm vi, nhiệm vụ thanh tra lại.

+ Thời hạn tiến hành thanh tra lại.

+ Trưởng đoàn và các thành viên của đoàn thanh tra lại.

Người ra quyết định thanh tra lại phải gửi quyết định thanh tra lại cho đối tượng thanh tra chậm nhất là 03 ngày làm việc kể từ ngày ký quyết định thanh tra lại.

Quyết định thanh tra lại phải được công bố chậm nhất là 15 ngày kể từ ngày ký và phải được đoàn thanh tra lập biên bản công bố quyết định thanh tra lại.

4. Thời hiệu, thời hạn thanh tra lại

Theo quy định tại Khoản 3 Điều 120 Luật Quản lý thuế năm 2019, thời hiệu và thời hạn thanh tra lại việc thanh tra thuế tiến hành như sau:

- Thời hiệu thanh tra lại là 02 năm kể từ ngày ký kết luận thanh tra.

- Thời hạn thanh tra lại được thực hiện theo quy định của Luật Thanh tra năm 2010. Trong luật này, thời hạn thanh tra sẽ được áp dụng với mỗi đối tượng khác nhau như thanh tra hành chính, thanh tra chuyên ngành,…

Thời hạn của cuộc thanh tra lại được tính là thời gian thực hiện thanh tra tại trụ sở của người nộp thuế kể từ ngày công bố quyết định thanh tra lại đến ngày kết thúc việc thanh tra tại trụ sở của người nộp thuế. Trường hợp cần thiết, người ra quyết định thanh tra lại gia hạn thời hạn thanh tra thuế.

Quy định về việc thanh tra lại trong hoạt động thanh tra thuế tạo hành lang pháp lý chặt chẽ trong công tác quản lý thuế, tránh những sai sót xảy ra khi thanh tra thuế dẫn đến gây thiệt hại cho người nộp thuế hoặc ảnh hưởng đến nguồn thu ngân sách Nhà nước.

Luật Hoàng Anh

Tổng đài tư vấn pháp luật

0908 308 123
Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

0908 308 123

luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Quyền và nghĩa vụ của người nộp thuế trong kiểm tra thuế tại trụ sở của người nộp thuế?

Hỏi đáp Thuế 29/06/2021

Trình bày quyền và nghĩa vụ của người nộp thuế khi bị kiểm tra thuế tại trụ sở của người nộp thuế.

Quy định như thế nào về thanh tra thuế?

Hỏi đáp Thuế 01/07/2021

Các trường hợp thanh tra thuế, quy định về quyết định thanh tra và thời hạn

Nhiệm vụ, quyền hạn của người ra quyết định thanh tra thuế?

Hỏi đáp Thuế 01/07/2021

Trình bày những nhiệm vụ cần thực hiện và quyền hạn của người ra quyết định thanh tra thuế.

Nhiệm vụ, quyền hạn của các chủ thể có thẩm quyền trong việc ra quyết định và thực hiện kiểm tra thuế như thế nào?

Hỏi đáp Thuế 01/07/2021

Nhiệm vụ, quyền hạn của thủ trưởng cơ quan quản lý thuế và của công chức quản lý thuế