2
Tư vấn mở chuỗi kinh doanh nhượng quyền thương mại
MỤC LỤC
Trong thời kỳ đấu tranh cách mạng, kháng chiến cứu nước lâu dài, gian khổ và oanh liệt của dân tộc ta trước đây, cũng như trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam hiện nay, lực lượng Cựu chiến binh ngày càng phát triển lớn mạnh và có vai trò vô cùng quan trọng trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Vậy ý nghĩa của Ngày thành lập Hội cựu chiến binh Việt Nam (06/12) là gì?. Trong bài viết dưới đây sẽ trình bày về vấn đề trên. Hãy GỌI NGAY tới 0908308123 để được Luật sư tư vấn miễn phí và cung cấp các dịch vụ theo yêu cầu.
Vào ngày 06/12/1989, Bộ Chính trị - Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VI) đã quyết định cho thành lập Hội Cựu Chiến Binh Việt Nam. Sự kiện này đã đánh dấu một cột mốc quan trọng trong lịch sử, khẳng định vai trò, vị thế của cựu chiến binh không chỉ trong việc phát huy phẩm chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ” mà còn trong việc tiếp tục đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Từ ngày thành lập đến nay, dưới sự đạo của Đảng, Hội đã trưởng thành nhanh chóng và phát triển về mọi mặt, xứng đáng là một tổ chức chính trị - xã hội, là chỗ dựa tin cậy của các cấp ủy đảng, chính quyền, nhân dân, nhất là ở cơ sở.
Ngày 06 tháng 12 hằng năm là ngày Truyền thống của Cựu chiến binh và Hội Cựu chiến binh Việt Nam. Đây là dịp để tri ân và biểu dương những đóng góp to lớn của các thế hệ cựu chiến binh trong các cuộc kháng chiến bảo vệ độc lập dân tộc, làm nhiệm vụ quốc tế và xây dựng đất nước. Ngày này cũng là lời nhắc nhở sâu sắc về đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc Việt Nam, thể hiện sự ghi nhận và tôn vinh đối với những hy sinh, cống hiến thầm lặng nhưng vĩ đại của các cựu chiến binh.
Bên cạnh đó, ngày thành lập Hội Cựu chiến binh (06/12) có ý nghĩa quan trọng trong việc động viên các thế hệ Cựu chiến binh giữ vững và phát huy truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, tích cực tham gia cống hiến cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; gương mẫu trong cuộc sống, là tấm gương sáng trong giáo dục cho thế hệ trẻ.
Điều 2 Nghị định số 150/2006/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh Cựu chiến binh; được sửa đổi, bổ sung tại Khoản 1 Điều 1 Nghị định số 157/2016/NĐ-CP đã quy định Cựu chiến binh bao gồm có các nhóm đối tượng sau:
Theo đó, cựu chiến binh tham gia kháng chiến chống Pháp bao gồm:
a) Cán bộ, chiến sĩ các đơn vị vũ trang do Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức trước cách mạng tháng 8 năm 1945 như Đội Tự vệ đỏ, du kích Ba Tơ, du kích Bắc Sơn, Cứu Quốc quân, Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân;
b) Đội viên đội công tác vũ trang hoạt động trong vùng địch tạm chiếm ở miền Bắc từ ngày 20 tháng 07 năm 1954 trở về trước;
c) Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, binh sĩ, công nhân viên quốc phòng nhập ngũ (tuyển dụng) từ ngày 20 tháng 07 năm 1954 trở về trước.
Khoản 2, Khoản 3 và Khoản 4 Điều 2 Nghị định số 150/2006/NĐ-CP; được sửa đổi, bổ sung tại Khoản 1 Điều 1 Nghị định số 157/2016/NĐ-CP đã quy định đối tượng là cựu chiến binh tham gia kháng chiến chống Mỹ, bao gồm:
a) Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, binh sĩ, công nhân viên quốc phòng nhập ngũ (tuyển dụng) từ ngày 30 tháng 04 năm 1975 trở về trước;
b) Cán bộ, chiến sĩ dân quân, tự vệ, du kích tập trung ở miền Bắc từ ngày 27 tháng 01 năm 1973 trở về trước, đã tham gia chiến đấu, trực tiếp phục vụ chiến đấu ở đơn vị tập trung theo quyết định thành lập hoặc giao nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị có thẩm quyền;
c) Cán bộ, chiến sĩ dân quân, tự vệ, du kích tập trung ở miền Nam từ ngày 30 tháng 04 năm 1975 trở về trước, đã tham gia chiến đấu, trực tiếp phục vụ chiến đấu theo sự quản lý, phân công hoặc giao nhiệm vụ của tổ chức, cơ sở cách mạng có thẩm quyền;
Các đối tượng là cựu chiến binh tham gia chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, làm nhiệm vụ quốc tế sau ngày 30 tháng 04 năm 1975, gồm:
a) Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, binh sĩ, công nhân viên quốc phòng đã tham gia chiến đấu, làm nhiệm vụ quốc tế, trực tiếp phục vụ chiến đấu trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc;
b) Cán bộ, chiến sĩ dân quân, tự vệ đã tham gia chiến đấu, trực tiếp phục vụ chiến đấu ở đơn vị tập trung theo quyết định thành lập hoặc giao nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị có thẩm quyền sau ngày 30 tháng 04 năm 1975;
c) Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp nhập ngũ từ sau 30 tháng 04 năm 1975, đã hoàn thành nhiệm vụ tại ngũ trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đã phục viên, nghỉ hưu, chuyển ngành.
Ngoài ra, theo khoản 6 Điều 2 Nghị định 150/2006/NĐ-CP quy định các đối tượng trên sẽ không được công nhận Cựu chiến binh nếu thuộc các trường hợp sau:
- Người đầu hàng địch; phản bội; người vi phạm kỷ luật bị tước danh hiệu quân nhân; công nhân viên quốc phòng bị kỷ luật buộc thôi việc;
- Người bị kết án tù mà chưa được xoá án tích.
Hội Cựu chiến binh Việt Nam là một tổ chức chính trị - xã hội, thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, là một cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, một tổ chức trong hệ cơ sở chính trị của thống chính trị do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.
Điều 11 Điều lệ của Hội cựu chiến binh đã quy định Hội Cựu chiến binh Việt Nam được tổ chức theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Theo đó, nội dung cơ bản của nguyên tắc là:
1. Ban chấp hành tổ chức Hội các cấp do dân chủ bầu cử bằng phiếu kín (trường hợp đặc biệt do ban chấp hành tổ chức Hội cấp trên trực tiếp chỉ định); thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách.
2. Cơ quan lãnh đạo cao nhất của Hội là Đại hội Đại biểu toàn quốc. Cơ đạo ở mỗi cấp là đại hội đại biểu hoặc đại quan lãnh hội toàn thể hội viên. Giữa hai kỳ đại hội, cơ quan lãnh đạo của Hội là Ban Chấp hành Trung ương Hội, ở mỗi cấp là ban chấp hành tổ chức Hội cùng cấp.
3. Ban chấp hành báo cáo và chịu trách nhiệm về hoạt động của mình trước đại hội cùng cấp, trước ban chấp hành tổ chức Hội cấp trên; định kỳ thông báo tình hình hoạt động của mình đến các tổ chức Hội trực thuộc; thực hiện tự phê bình và phê bình.
4. Tổ chức Hội và hội viên phải chấp hành nghị quyết của Hội. Thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên, cá nhân phục tùng tổ chức, các tổ chức trong toàn Hội phục tùng Đại hội đại biểu toàn quốc và Ban Chấp hành Trung ương Hội.
5. Nghị quyết của các tổ chức Hội chỉ có giá trị thi hành khi có trên một phần hai số thành viên được triệu tập của tổ chức đó nhất trí (trừ việc kết nạp, khai trừ hội viên và giải tán tổ chức Hội). Trước khi biểu quyết, mỗi thành viên được phát biểu ý kiến của mình. Hội viên có ý kiến thuộc về thiểu số được quyền bảo lưu và báo cáo lên tổ chức Hội cấp trên, nhưng phải chấp hành nghiêm nghị quyết, không được truyền bá ý kiến trái với nghị quyết của Hội.
6. Ban chấp hành tổ chức Hội các cấp quyết định các vấn đề thuộc phạm vi quyền hạn của mình, nhưng không được trái với nguyên tắc, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước, nghị quyết của cấp ủy cùng cấp và nghị quyết của tổ chức Hội cấp trên.
7. Ban chấp hành tổ chức Hội từ cấp huyện, quận và tương đương trở lên lập cơ quan thường trực; thành phần cơ quan thường trực gồm chủ tịch và các phó chủ tịch cùng cấp. Cơ quan thường trực có trách nhiệm thay mặt ban thường vụ điều hành công tác thường xuyên của Hội; triệu tập và chuẩn bị nội dung các kỳ họp của ban thường vụ.
Theo đó, các quy định trên tạo nên một khung pháp lý chặt chẽ, từ đó đảm bảo Hội Cựu chiến binh hoạt động một cách hiệu quả, minh bạch và đúng định hướng.
Căn cứ theo quy định tại Điều 4 Điều lệ của Hội cựu chiến binh, Hội Cựu chiến binh Việt Nam có nhiệm vụ:
1. Tham gia xây dựng và bảo vệ Đảng, chính quyền, chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ Nhân dân; đấu tranh chống mọi âm mưu, thủ đoạn hoạt động phá hoại của các thế lực thù địch; chống các quan điểm sai trái với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước; thực hiện các quy định của pháp luật về dân chủ ở cơ sở; đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và các tệ nạn xã hội; tham gia giám sát, phản biện xã hội đối với các hoạt động của các cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử, cán bộ, công chức, viên chức Nhà nước theo quy định.
2. Tham gia phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng an ninh; kiến nghị với các cơ quan nhà nước, chính quyền địa phương về xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật có liên quan đến hội viên, Cựu chiến binh và Hội Cựu chiến binh Việt Nam.
3. Tập hợp, đoàn kết, động viên hội viên và Cựu chiến binh rèn luyện, giữ gìn phẩm chất, đạo đức cách mạng, nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ hiểu biết về đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước, kiến thức về kinh tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật, thực hiện tốt nghĩa vụ công dân. Phối hợp với cơ quan quân sự địa phương, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và các ngành chức năng cùng cấp tham mưu cho cấp ủy, chính quyền tập hợp, động viên Cựu quân nhân tham gia sinh hoạt trong các câu lạc bộ, ban liên lạc Cựu quân nhân, nhằm tiếp tục giữ vững và phát huy bản chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ” trong thực hiện các phong trào, các cuộc vận động của cấp ủy và chính quyền ở cơ sở.
4. Tổ chức chăm lo, giúp đỡ hội viên và Cựu chiến binh, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, phát triển kinh tế gia đình, xóa đói, giảm nghèo, làm giàu hợp pháp; tổ chức hoạt động tình nghĩa để hội viên và Cựu chiến binh tương trợ giúp đỡ nhau trong cuộc sống.
5. Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của hội viên và Cựu chiến binh; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, tư vấn, trợ giúp pháp lý cho hội viên và Cựu chiến binh.
6. Phối hợp với Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cơ quan quân sự địa phương cùng cấp giáo dục truyền thống yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, ý chí tự lực, tự cường cho thế hệ trẻ.
7. Tiến hành các hoạt động đối ngoại nhân dân, góp phần thực hiện đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước.
8. Xây dựng tổ chức Hội vững mạnh toàn diện.
Như vậy, các quy định trên đã phản ánh rõ vai trò quan trọng của Hội Cựu chiến binh Việt Nam trong việc tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời giữ gìn và phát huy truyền thống cách mạng.
Luật Hoàng Anh.
Để nhận tin tức và quà tặng từ Luật Hoàng Anh