2
Tư vấn mở chuỗi kinh doanh nhượng quyền thương mại
MỤC LỤC
Chế định thừa kế trong hôn nhân luôn nhận được rất nhiều sự quan tâm bởi lẽ nó liên quan trực tiếp đến quyền lợi, lợi ích của vợ chồng, con cái trong gia đình. Theo đó, việc xác định tài sản thừa kế là tài sản chung hay tài sản riêng được pháp luật quy định rất rõ ràng. Trong bài viết này, Luật Hoàng Anh sẽ trình bày về vấn đề này theo quy định pháp luật hiện hành.
- Bộ luật dân sự 2015
- Luật hôn nhân và gia đình 2014
- Nghị định 126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật hôn nhân và gia đình.
Thừa kế là sự dịch chuyển tài sản của người đã chết cho người còn sống, tài sản để lại gọi là di sản.
Theo đó, có thể hiểu di sản thừa kế là tài sản của người chết để lại cho những người còn sống. Căn cứ quy định tại Điều 634 Bộ luật dân sự 2015 quy định: “Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác.”
Di sản thừa kế có thể là vật, tiền, giấy tờ có giá, quyền tài sản thuộc sở hữu của người để lại di sản.
Căn cứ theo Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định:
Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng
1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
2. Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.
3.Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.
4. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.
Căn cứ theo Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định tài sản riêng của vợ chồng:
Điều 43. Tài sản riêng của vợ, chồng
1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.
2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này.
Theo quy định nêu trên, về thừa kế tài sản của vợ chồng thì tài sản thừa kế có thể là tài sản chung hoặc tài sản riêng của vợ chồng.
- Tài sản chung của vợ chồng: Tài sản thừa kế là tài sản chung của vợ chồng khi vợ chồng được thừa kế chung. Theo đó, thừa kế chung của vợ chồng hầu hết là được hưởng theo di chúc của người để lại di sản. Bởi lẽ, trong di chúc, người để lại di sản mới có thể chỉ định được cho cả hai là chồng, vợ cùng hưởng di sản. Còn đối với thừa kế theo pháp luật, xét về hàng thừa kế thì trong các trường hợp chỉ có chồng hoặc vợ là người được hưởng thừa kế theo hàng thừa kế.
- Tài sản riêng của vợ chồng: Tài sản thừa kế là tài sản riêng của vợ chồng khi vợ chồng được thừa kế riêng. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó Tuy nhiên, Điều 46 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định: “1. Việc nhập tài sản riêng của vợ, chồng vào tài sản chung được thực hiện theo thỏa thuận của vợ chồng.” Như vậy, tài sản riêng của vợ chồng có thể nhập vào khối tài sản chung của vợ chồng nếu hai người có sự thuận tình với nhau. Sau khi nhập vào khối tài sản chung thì tài sản thừa kế đó thuộc sở hữu của cả hai và được sử dụng vào mục đích dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.
Để nhận tin tức và quà tặng từ Luật Hoàng Anh