Tổ chức hòa giải trong pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Hòa giải là việc các bên tiến hành “thương lượng giải quyết tranh chấp” với sự hỗ trợ của người trung gian, hay còn gọi là hòa giải viên. Đây cũng được xem là phương thức giải quyết tranh chấp không chịu sự điều chỉnh của pháp luật, được thực hiện hòa toàn dựa trên thiện chí của các bên. So với việc lựa chọn phương thức thương lượng để giải quyết tranh chấp thì khi tiến hành hòa giải các bên được thỏa thuận lựa chọn ra một bên trung gian, độc lập, có kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm để giải quyết tranh chấp, đưa ra các lời khuyên về quyền lợi và nghĩa vụ của các bên.

Người trung gian có thể là cá nhân, tổ chức luật sư, tổ chức hòa giải,… Ý kiến của người trung gian chỉ mang tính tham khảo. Phương thức hòa giải cũng được các bên lựa chọn vì thủ tục nhanh gọn, các bên có quyền định đoạt, không làm ảnh hưởng đến mối quan hệ hợp tác giữa các bên, không làm mất uy tín của hai bên.

Tổ chức hòa giải là gì?

Điều 35. Tổ chức hòa giải

Tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện theo quy định của Chính phủ được thành lập tổ chức hòa giải để giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ.”

Tổ chức hòa giải bao gồm các cá nhân trong đó là những hòa giải viên. Như vậy chỉ cần đáp ứng đủ các điều kiện quy định tại Điều 32 Nghị định số 99/2011/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thì tổ chức, cá nhân được phép thành lập tổ chức hòa giải để giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ:

Điều 32. Hòa giải viên

1. Công dân Việt Nam có đủ các điều kiện sau đây có thể làm Hòa giải viên:

a) Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;

b) Có phẩm chất đạo đức tốt, trung thực;

c) Có ít nhất năm (05) năm kinh nghiệm công tác.

2. Người đang bị quản chế hành chính, đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đã bị kết án mà chưa được xóa án tích không được làm Hòa giải viên.”

Cơ quan, tổ chức có thẩm quyền thành lập, giải thể tổ chức hòa giải

Thẩm quyền thành lập, giải thể tổ chức hòa giải được quy định tại Điều 31 Nghị định số 99/2011/NĐ-CP, cụ thể:

Điều 31. Thẩm quyền thành lập, giải thể tổ chức hòa giải

Các cơ quan, tổ chức sau đây có thẩm quyền thành lập, giải thể tổ chức hòa giải:

1. Cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

2. Tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.”

Thuật ngữ “giải thể” được Từ điển tiếng Việt giải nghĩa là “không còn tồn tại, làm cho không còn tồn tại như một tổ chức, các thành phần, thành viên phân tán đi”. Theo cách hiểu này, giải thể là chấm dứt sự tồn tại của một tổ chức.

- Các cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng bao gồm: Chính phủ là cơ quan thống nhất quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, tại Trung ương Bộ Công Thương chịu trách nhiệm thống nhất quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Cục Cạnh tranh và Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng là cơ quan giúp Bộ trưởng Bộ Công Thương thực hiện chức năng quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tại địa phương, Ủy ban nhân dân các cấp là cơ quan thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Sở Công Thương là cơ quan giúp Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tại địa phương.

- Tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng hiện nay có thể kể đến Hội Bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam với quy mô hoạt động trên phạm vi cả nước.

Trách nhiệm và quyền hạn của tổ chức hòa giải quy định như thế nào?

Tổ chức hòa giải được các bên lựa chọn làm trung gian hoà giải có vai trò quan trọng và giữ vị trí trung tâm mặc dù quyết định cuối cùng vẫn thuộc về các bên tranh chấp; bên thứ ba làm trung gian hoà giải không có quyền quyết định hay áp đặt bất cứ vấn đề gì nhằm ràng buộc các bên tranh chấp. Quyền quyết định cuối cùng vẫn thuộc về các bên tranh chấp khi họ thống nhất được ý chí với nhau về giải quyết vụ tranh chấp trên cơ sở hướng dẫn, trợ giúp của người thứ ba làm trung gian hoà giải. Tuy vậy, tổ chức hòa giải vẫn có các quyền hạn, trách nhiệm căn cứ theo Điều 33 Nghị định số 99/2011/NĐ-CP, đó là:

Điều 33. Trách nhiệm, quyền hạn của tổ chức hòa giải

Trong quá trình hoạt động, tổ chức hòa giải có trách nhiệm sau:

1. Thực hiện đúng quy định của pháp luật.

2. Tôn trọng sự thỏa thuận của các bên; không được đe dọa, cưỡng ép các bên trong quá trình hòa giải.

3. Đảm bảo bí mật thông tin liên quan đến nội dung hòa giải và các thông tin khác của các bên tham gia hòa giải, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

4. Không được lợi dụng việc hòa giải để gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia hòa giải.

5. Không được hòa giải trong trường hợp tranh chấp gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích của nhiều người tiêu dùng, lợi ích công cộng hoặc có dấu hiệu cấu thành tội phạm.”

Tuy cùng có sự tham gia của người thứ ba vào quá trình giải quyết tranh chấp nhưng hoà giải ngoài tố tụng khác với phương thức giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài hay toà án bởi vai trò của người thứ ba. Trọng tài hay toà án với tư cách người thứ ba tham gia vào giải quyết vụ tranh chấp lại có quyền ra phán quyết để ràng buộc các bên tranh chấp phải thực hiện theo các nội dung của phán quyết đã được đưa ra.

Luật Hoàng Anh

Tổng đài tư vấn pháp luật

0908 308 123
Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

0908 308 123

luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra được quy định như thế nào?

Thương mại 27/10/2021

Điều 23 Luật BVNTD 2010, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra cho thương nhân trong trường hợp nào?

Thương mại 27/10/2021

Điều 24 Luật BVNTD 2010, miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra

Tổ chức xã hội thực hiện nhiệm vụ được cơ quan nhà nước giao quy định như thế nào?

Thương mại 28/10/2021

Điều 29 Luật BVNTD 2010, tổ chức xã hội thực hiện nhiệm vụ được cơ quan nhà nước giao

Phương thức giải quyết tranh chấp người tiêu dùng cần biết

Thương mại 28/10/2021

Điều 30, Luật Bảo vệ quyền lợi NTD 2010 phương thức giải quyết tranh chấp

Trách nhiệm đối với khiếm khuyết của hàng hoá cho thuê được quy định như thế nào?

Thương mại 29/10/2021

Bài viết phân tích trách nhiệm đối với khiếm khuyết của hàng hoá cho thuê

Hòa giải trong tranh chấp giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ quy định như thế nào?

Thương mại 30/10/2021

Điều 33 Luật Bảo vệ quyền lợi NTD 2010 hòa giải tranh chấp NTD và tổ chức, cá nhân kinh doanh

Biên bản hòa giải trong giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng và thương nhân gồm những nội dung gì?

Thương mại 30/10/2021

Điều 36 Luật Bảo vệ quyền lợi NTD 2010 biên bản hòa giải tranh chấp NTD và tổ chức, cá nhân kinh doanh