Trách nhiệm cung cấp bằng chứng giao dịch của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ

Bằng chứng giao dịch không chỉ để xác nhận giao dịch giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh mà có thể thực hiện việc khiếu nại, khởi kiện trong trường hợp có hành vi vi phạm quyền lợi của chính người tiêu dùng. Trong Luật Bảo vệ người tiêu dùng năm 2010, ghi nhận tại Điều 20 về trách nhiệm cung cấp bằng chứng giao dịch đó là:

Điều 20. Trách nhiệm cung cấp bằng chứng giao dịch

1. Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có trách nhiệm cung cấp cho người tiêu dùng hóa đơn hoặc chứng từ, tài liệu liên quan đến giao dịch theo quy định của pháp luật hoặc theo yêu cầu của người tiêu dùng.

2. Trường hợp giao dịch bằng phương tiện điện tử thì tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có trách nhiệm tạo điều kiện cho người tiêu dùng truy nhập, tải, lưu giữ và in hóa đơn, chứng từ, tài liệu quy định tại khoản 1 Điều này.”

Khái niệm bằng chứng giao dịch

Bằng chứng giao dịch là hình thức ghi nhận giao dịch giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ khi người tiêu dùng mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ đó.

Ý nghĩa bằng chứng giao dịch

Bằng chứng giao dịch có ý nghĩa rất quan trọng để người tiêu dùng bảo vệ quyền lợi của mình trong giao dịch với thương nhân được thể hiện như sau:

- Ghi nhận giao dịch đã được xác lập. Bằng chứng giao dịch là cơ sở để các bên thực hiện nội dung đã thỏa thuận. Ngoài ra còn có thể ghi nhận thông tin liên quan đến cả người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh nhằm giúp các bên thực hiện hợp đồng đã giao kết 1 cách thuận tiện.

- Chứng cứ quan trọng để người tiêu dùng có thể khiếu nại hoặc khởi kiện khi có hành vi vi phạm. Bởi người tiêu dùng phải có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ không chỉ để chứng minh giao dịch đã được xác lập trên thực tế mà còn chứng minh các yếu tố khác. Để thực hiện việc khiếu nại, khởi kiện người tiêu dùng phải có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ không chỉ để chứng minh giao dịch đã được xác lập mà còn chứng minh các yếu tố khác.

- Là căn cứ quan trọng để cơ quan có thẩm quyền xác định hành vi của tổ chức, cá nhân kinh doanh có hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng hay không. Để kiểm tra, xử lý hành vi vi phạm của tổ chức, cá nhân kinh doanh thì bằng chứng giao dịch là một trong những cơ sở pháp lý để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và bảo đảm trật tự quản lý kinh tế.

Trách nhiệm cung cấp bằng chứng giao dịch của thương nhân cho người tiêu dùng

- Cung cấp cho người tiêu dùng hóa đơn, chứng từ, tài liệu liên quan đến giao dịch theo quy định của pháp luật hoặc theo yêu cầu của người tiêu dùng

Hóa đơn là chứng từ do người bán lập, ghi nhận thông tin bán hàng hóa, dịch vụ theo quy định của pháp luật (Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 51/2010/NĐ-CP của Chính phủ quy định về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, hết hiệu lực vào ngày 01/07/2022). Chứng từ trong các văn bản luật chuyên ngành sẽ có những cách định nghĩa cụ thể khác nhau, nhìn chung đều được xem là tài liệu bắt buộc phải có trong hoạt động của doanh nghiệp, là các giấy tờ, tài liệu ghi lại nội dung của một sự kiện giao dịch, một nghiệp vụ nào đó đã được hạch toán.

Theo Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng, hóa đơn (hóa đơn giá trị gia tăng, hóa đơn đỏ) không chỉ là tài liệu thể hiện giá của sản phẩm/dịch vụ (gọi chung là hàng hóa), mà còn là tài liệu nhằm ghi nhận doanh số giao dịch của doanh nghiệp và là bằng chứng chứng minh người tiêu dùng đã mua hàng hóa của người bán. Trong trường hợp phát sinh tranh chấp giữa người tiêu dùng và bên bán, thì hóa đơn là một bằng chứng quan trọng, ràng buộc trách nhiệm của bên bán đối với bên mua.

Quyền của bên mua tương đương với đó sẽ là nghĩa vụ của bên bán. Theo pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, một trong những quyền của người tiêu dùng đó là: “Được cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ về tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ; nội dung giao dịch hàng hóa, dịch vụ; nguồn gốc, xuất xứ hàng hóa; được cung cấp hóa đơn, chứng từ, tài liệu liên quan đến giao dịch và thông tin cần thiết khác về hàng hóa, dịch vụ mà người tiêu dùng đã mua, sử dụng” (Khoản 2 Điều 8 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010). Do đó, tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có trách nhiệm cung cấp cho người tiêu dùng hóa đơn hoặc chứng từ, tài liệu liên quan đến giao dịch theo quy định của pháp luật hoặc theo yêu cầu của người tiêu dùng.

- Tạo điều kiện cho người tiêu dùng truy nhập, tải, lưu giữ và in hóa đơn, chứng từ, tài liệu liên quan đến giao dịch

Trường hợp giao dịch bằng phương tiện điện tử thì tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có trách nhiệm tạo điều kiện cho người tiêu dùng truy nhập, tải, lưu giữ và in hóa đơn, chứng từ, tài liệu.

Xã hội ngày càng phát triển với sự bùng nổ của công nghệ thông tin, xuất hiện các phương thức giao dịch thuận tiện hơn đó là hóa đơn điện tử. Hóa đơn điện tử là tập hợp các thông điệp dữ liệu điện tử về bán hàng hóa, dịch vụ, được khởi tạo, lập, gửi, nhận, lưu trữ và quản lý theo quy định tại Luật Giao dịch điện tử và các văn bản hướng dẫn thi hành (căn cứ vào Điểm b Khoản 2 Điều 4 Nghị định số 51/2010/NĐ-CP). Vì là giao dịch bằng phương thức điện tử nên người tiêu dùng cần sự đồng ý truy nhập từ phía thương nhân cung cấp sản phẩm, dịch vụ thì mới có thể thực hiện các thao tác như tải, lưu giữ và in hóa đơn, chứng từ, tài liệu. Ví dụ trong hoạt động ngân hàng, người tiêu dùng muốn in sao kê các khoản đã tiêu của mình trong tháng hoặc năm thì cần đến ngân hàng yêu cầu giao dịch viên hỗ trợ điều này.

Nếu người tiêu dùng không được cung cấp hóa đơn hoặc được cung cấp nhưng không lưu giữ hóa đơn, điều này sẽ ảnh hưởng tới không chỉ quyền lợi của người tiêu dùng mà còn ảnh hưởng tới nhiều đối tượng khác, cụ thể như sau: Không có hóa đơn đồng nghĩa với người tiêu dùng không có bằng chứng giao dịch. Trong trường hợp xảy ra tranh chấp, khiếu nại, người tiêu dùng có thể bị từ chối.

Trong một số trường hợp, khi người tiêu dùng xác lập các giao dịch thông qua các hợp đồng đặc thù như: giao kết hợp đồng từ xa, bán hàng tận cửa, cung cấp dịch vụ liên tục với tổ chức, cá nhân kinh doanh thì tổ chức, cá nhân kinh doanh phải tạo điều kiện để người tiêu dùng có được các chứng từ để chứng minh giao dịch đồng thời có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng trong một số trường hợp để bảo vệ quyền lợi của mình. Xem thêm các quy định chi tiết tại Mục 2 Nghị định số 99/2011/NĐ-CP của Chính phủ.

Luật Hoàng Anh

Tổng đài tư vấn pháp luật

0908 308 123
Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

0908 308 123

luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Người tiêu dùng có những quyền gì?

Thương mại 22/10/2021

Điều 8 Quyền của người tiêu dùng, Luật Bảo vệ người tiêu dùng năm 2010

Nghĩa vụ của người tiêu dùng là gì?

Thương mại 22/10/2021

Điều 9. Nghĩa vụ của người tiêu dùng, Luật Bảo vệ người tiêu dùng năm 2010

Các hành vi nào bị cấm theo pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng?

Thương mại 22/10/2021

Điều 10 Luật Bảo vệ người tiêu dùng năm 2010, hành vi bị cấm

Vi phạm pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thì bị xử lý như thế nào?

Thương mại 22/10/2021

Điều 11 Luật Bảo vệ người tiêu dùng năm 2010 xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ quyền lợi NTD

Trách nhiệm trong việc cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng của tổ chức, cá nhân kinh doanh là gì?

Thương mại 22/10/2021

Điều 12 Luật Bảo vệ người tiêu dùng năm 2010 trách nhiệm cung cấp thông tin của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ

Quy định về thực hiện hợp đồng theo mẫu như thế nào?

Thương mại 26/10/2021

Điều 17 Luật Bảo vệ người tiêu dùng năm 2010, Thực hiện hợp đồng theo mẫu

Kiểm soát hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung như thế nào?

Thương mại 26/10/2021

Điều 19 Luật Bảo vệ người tiêu dùng năm 2010, kiểm soát hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung

Quy định về thực hiện điều kiện giao dịch chung như thế nào?

Thương mại 26/10/2021

Điều 18 Luật Bảo vệ người tiêu dùng năm 2010, thực hiện điều kiện giao dịch chung