Quyền hạn của chủ sở hữu tổ chức tín dụng?

1.Căn cứ pháp lý

Đối với tổ chức tín dụng được thành lập dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, thì chỉ có duy nhất một chủ thực hiện góp vốn kinh doanh tổ chức tín dụng. Để thực hiện quyền chủ sở hữu đối với công ty của mình, chủ thể được pháp luật trao cho nhiệm vụ và quyền hạn cơ bản trong quá trình hoạt động. Cụ thể, khoản 1 Điều 66 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi năm 2017 quy định quyền hạn của chủ sở hữu tổ chức tín dụng hữu hạn một thành viên như sau:

Điều 66. Nhiệm vụ, quyền hạn của chủ sở hữu
1. Chủ sở hữu của tổ chức tín dụng là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên có các quyền hạn sau đây:
a) Quyết định số lượng thành viên Hội đồng thành viên theo từng nhiệm kỳ, nhưng không ít hơn 05 thành viên và không quá 11 thành viên;
b) Bổ nhiệm người đại diện theo ủy quyền với nhiệm kỳ không quá 05 năm để thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của chủ sở hữu theo quy định của Luật này. Người đại diện theo ủy quyền phải có đủ các tiêu chuẩn, điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 50 của Luật này;
c) Bổ nhiệm, miễn nhiệm, bãi nhiệm, bổ sung thành viên Hội đồng thành viên, Chủ tịch Hội đồng thành viên, thành viên Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó giám đốc), Kế toán trưởng;
d) Quyết định thay đổi vốn điều lệ của tổ chức tín dụng; chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ của tổ chức tín dụng và thay đổi hình thức pháp lý của tổ chức tín dụng;
đ) Quyết định thành lập công ty con, công ty liên kết;
e) Thông qua báo cáo tài chính hằng năm; quyết định việc sử dụng lợi nhuận sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ thuế và các nghĩa vụ tài chính khác của tổ chức tín dụng;
g) Quyết định tổ chức lại, giải thể, yêu cầu Tòa án mở thủ tục phá sản tổ chức tín dụng;
h) Quyết định mức thù lao, lương, các lợi ích khác của thành viên Hội đồng thành viên, thành viên Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc)”

2.Nội dung

Đặc trưng cơ bản của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là chỉ có duy nhất một chủ thể góp vốn làm chủ sở hữu của công ty. Trong hoạt động tín dụng, không phải bất kỳ tổ chức hoạt động ngân hàng nào cũng có thể thành lập dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên. Theo đó, các tổ chức được thành lập dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn bao gồm: Ngân hàng thương mại nhà, tổ chức tín dụng phi ngân hàng trong nước, tổ chức tín dụng 100% vốn nước ngoài, tổ chức tài chính vi mô. Chủ sở hữu của tổ chức tín dụng trách nhiệm hữu hạn một thành viên chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài chính của tổ chức trong phạm vi vốn góp của mình. Là chủ sở hữu duy nhất của tổ chức tín dụng, chủ thể được pháp luật trao cho quyền hạn để vận hành tổ chức trên thị trường. Quyền hạn là những gì mà chủ sở hữu được quyền thực hiện trong quá trình hoạt động của tổ chức tín dụng, bao gồm:
-Quyết định số lượng thành viên Hội đồng thành viên theo từng nhiệm kỳ, nhưng không ít hơn 05 thành viên và không quá 11 thành viên. Số lượng thành viên của Hội đồng thành viên theo quy định chung của pháp luật tối thiểu là 05 người và tối đa là 11 người. Họ là cá nhân, do chủ sở hữu trực tiếp quyết định. Chủ sở hữu là người góp vốn thành lập tổ chức, mà hoạt động của Hội đồng thành viên là đem lại lợi ích cho tổ chức tín dụng. Để bảo vệ lợi ích của mình, chủ sở hữu có quyền lựa chọn cá nhân có đủ điều kiện theo pháp luật, năng lực chuyên môn cao đảm nhiệm chức vụ thành viên của Hội đồng thành viên.
-Bổ nhiệm người đại diện theo ủy quyền với nhiệm kỳ không quá 05 năm để thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của chủ sở hữu theo quy định của LTCTD. Trong nhiều trường hợp, chủ sở hữu không phải lúc nào cũng trực tiếp thực hiện quyền sở hữu của mình tại tổ chức tín dụng. Để linh hoạt cho chủ thể, pháp luật đã quy định chủ sở hữu có thể bổ nhiệm người đại diện theo ủy quyền cho mình với nhiệm kỳ tối đa 05 năm. Người đại diện nhân danh chủ sở hữu thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn phù hợp với thẩm quyền nhằm đem lại lợi ích cho tổ chức tín dụng. Người đại diện theo ủy quyền phải có đủ các tiêu chuẩn, điều kiện như sau: Không thuộc đối tượng không được đảm nhiệm chức vụ theo quy định; Có đạo đức nghề nghiệp; Có bằng đại học trở lên; Có ít nhất 03 năm là người quản lý, người điều hành của tổ chức tín dụng hoặc có ít nhất 05 năm là người quản lý, người điều hành của doanh nghiệp hoạt động trong ngành tài chính, ngân hàng, kế toán, kiểm toán hoặc của doanh nghiệp khác có vốn chủ sở hữu tối thiểu bằng mức vốn pháp định đối với loại hình tổ chức tín dụng tương ứng hoặc có ít nhất 05 năm làm việc trực tiếp tại bộ phận nghiệp vụ về tài chính, ngân hàng, kế toán, kiểm toán
-Bổ nhiệm, miễn nhiệm, bãi nhiệm, bổ sung thành viên Hội đồng thành viên, Chủ tịch Hội đồng thành viên, thành viên Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó giám đốc), Kế toán trưởng. Đây đều là những chức danh quản lý, điều hành tổ chức tín dụng. Họ có nhiệm vụ thực hiện công việc phục vụ cho lợi ích của chủ sở hữu. Việc thực hiện nhiệm vụ của những chủ thể này ảnh hưởng trực tiếp tới lợi ích của chủ sở hữu, do đó, chủ sở hữu được quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm, bãi nhiệm, bổ sung những chủ thể này trong quá trình hoạt động.
-Quyết định thay đổi vốn điều lệ của tổ chức tín dụng. Vốn điều lệ là vốn thực góp của tổ chức tín dụng được ghi nhận trong Điều lệ công ty. Chủ sở hữu được giảm bớt hoặc tăng vốn điều lệ phụ thuộc vào nhu cầu, khả năng của mình nhưng phải đảm bảo không được nhỏ hơn vốn pháp định. Chủ sở hữu có thể chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ của tổ chức tín dụng. Chuyển nhượng vốn trong tổ chức tín dụng trách nhiệm hữu hạn một thành viên được hiểu là việc chủ sở hữu chuyển nhượng toàn bộ quyền và nghĩa vụ tương đương với phần vốn góp của mình cho chủ thể khác, thông qua các hình thức như: bán, tặng cho, để lại thừa kế…Trong quá trình hoạt động, có thể vì lý do nào đó mà chủ sở hữu không còn đủ khả năng, điều kiện để tiếp tục điều hành công ty. Quy định này là cơ sở để ứng phó với các tình huống có thể xảy ra trên thực tế, cho phép chủ sở hữu có thể rút vốn khỏi tổ chức tín dụng. Bên cạnh đó, chủ sở hữu còn có thể thay đổi hình thức pháp lý của tổ chức tín dụng. Thay đổi hình thức pháp lý là một hình thức tổ chức lại cơ cấu tổ chức tín dụng sao cho phù hợp với quy mô, định hướng phát triển của tổ chức đó. Ví dụ: thay đổi từ hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên sang công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên,….
-Quyết định thành lập công ty con, công ty liên kết. Công ty liên kết của tổ chức tín dụng là công ty trong đó tổ chức tín dụng hoặc tổ chức tín dụng và người có liên quan của tổ chức tín dụng sở hữu trên 11% vốn điều lệ hoặc trên 11% vốn cổ phần có quyền biểu quyết, nhưng không phải là công ty con của tổ chức tín dụng đó. Công ty con của tổ chức tín dụng là công ty thuộc một trong các trường hợp sau: Tổ chức tín dụng sở hữu trên 50% vốn điều lệ; Tổ chức tín dụng có quyền trực tiếp hoặc gián tiếp bổ nhiệm đa số hoặc tất cả thành viên Hội đồng thành viên hoặc Tổng giám đốc (Giám đốc) của công ty con; Tổ chức tín dụng có quyền sửa đổi, bổ sung điều lệ của công ty con;  Tổ chức tín dụng và người có liên quan của tổ chức tín dụng trực tiếp hay gián tiếp kiểm soát việc thông qua nghị quyết, quyết định của Hội đồng thành viên của công ty con.
-Thông qua báo cáo tài chính hằng năm. Báo cáo tài chính là các thông tin về tình hình kinh tế, tài chính, kinh doanh của tổ chức tín dụng do kiểm toán viên trình bày dưới dạng bảng biểu. Báo cáo tài chính cho biết tình hình kinh doanh, hoạt động của tổ chức trong một khoảng thời gian nhất định. Với tư cách là người đầu tư vốn vào công việc kinh doanh của tổ chức tín dụng, chủ sở hữu có quyền thông qua các báo cáo tài chính của tổ chức. Quyết định việc sử dụng lợi nhuận sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ thuế và các nghĩa vụ tài chính khác của tổ chức tín dụng. Lợi nhuận của tổ chức tín dụng là công ty TNHH một thành viên thuộc về chủ sở hữu, lợi nhuận đó không phải chia như đối với công ty cổ phần hay công ty TNHH hai thành viên. Vì vậy, chủ sở hữu tự mình quyết định việc tái đầu tư lợi nhuận thu được hàng năm. 
-Quyết định tổ chức lại, giải thể, yêu cầu Tòa án mở thủ tục phá sản tổ chức tín dụng. Tổ chức lại tổ chức là tái cấu trúc lại tổ chức, sao cho phù hợp với mục tiêu, định hướng phát triển thông qua các hình thức chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi loại hình công ty. Giải thể là việc ngừng hoạt động của tổ chức tín dụng, giải thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân, theo quy định pháp luật, Điều lệ công ty…Cũng là ngừng hoạt động nhưng phá sản lại chỉ xảy ra khi tổ chức tín dụng lâm vào tình trạng gặp khó khăn về tài chính, công việc kinh doanh thua lỗ, không thể thanh toán các khoản nợ khi đến hạn. Khi đó, theo yêu cầu của tổ chức, cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành tuyên bố phá sản tổ chức tín dụng.
-Quyết định mức thù lao, lương, các lợi ích khác của thành viên Hội đồng thành viên, thành viên Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc). Các chủ thể này thực hiện công việc vì lợi ích của tổ chức tín dụng, và chủ sở hữu. Vì vậy, chủ sở hữu quyết định mức thù lao, lương, các lợi ích khác cho họ sao cho phù hợp với tính chất công việc. 

Luật Hoàng Anh

Tổng đài tư vấn pháp luật

0908 308 123
Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

0908 308 123

luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Cổ đông phổ thông của tổ chức tín dụng có nghĩa vụ gì?

Tín dụng 22/10/2021

Thanh toán đủ số cổ phần đã cam kết mua trong thời hạn do tổ chức tín dụng quy định; chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của tổ chức tín dụng

Các loại cổ phần, cổ đông của tổ chức tín dụng?

Tín dụng 22/10/2021

Tổ chức tín dụng cổ phần phải có cổ phần phổ thông. Người sở hữu cổ phần phổ thông là cổ đông phổ thông. Tổ chức tín dụng có thể có cổ phần ưu đãi.

Nhiệm vụ, quyền hạn của Đại hội đồng cổ đông của tổ chức tín dụng?

Tín dụng 23/10/2021

Đại hội đồng cổ đông gồm tất cả cổ đông có quyền biểu quyết, là cơ quan quyết định cao nhất của tổ chức tín dụng. Đại hội đồng cổ đông có các nhiệm vụ, quyền hạn...

Mua lại cổ phần của tổ chức tín dụng?

Tín dụng 23/10/2021

Tổ chức tín dụng chỉ được mua lại cổ phần của cổ đông nếu sau khi thanh toán hết số cổ phần được mua lại mà vẫn bảo đảm các tỷ lệ an toàn trong hoạt động ngân hàng

Cổ phiếu của tổ chức tín dụng?

Tín dụng 23/10/2021

Cổ phiếu là hình thực thức thể hiện của cổ phần. Cổ phiếu là chứng chỉ do tổ chức tín dụng phát hành hoặc bút toán ghi sổ xác nhận quyền sở hữu của một chủ thể

Chào bán, chuyển nhượng cổ phần của tổ chức tín dụng?

Tín dụng 23/10/2021

Việc chào bán, chuyển nhượng cổ phần của các tổ chức tín dụng phải được thực hiện theo quy định tại Luật các tổ chức tín dụng và luật khác có liên quan...

Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng quản trị trong tổ chức tín dụng?

Tín dụng 29/10/2021

Chịu trách nhiệm triển khai việc thành lập, khai trương hoạt động của tổ chức tín dụng sau cuộc họp Đại hội đồng cổ đông đầu tiên....

Quyền và nghĩa vụ của thành viên Hội đồng quản trị trong tổ chức tín dụng?

Tín dụng 25/10/2021

Thực hiện quyền, nghĩa vụ của thành viên Hội đồng quản trị theo đúng quy chế nội bộ của Hội đồng quản trị và sự phân công của Chủ tịch Hội đồng quản trị...