Nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong TTDS là gì?

Chứng minh là hoạt động tố tụng cơ bản trong TTDS, mang tính chất quyết định dẫn đến kết quả giải quyết vụ việc dân sự, làm cơ sở cho Tòa án giải quyết vụ việc dân sự được chính xác và đúng pháp luật. Chứng minh trong TTDS không chỉ có ý nghĩa đối với Tòa án trong việc giải quyết vụ việc giải quyết vụ việc dân sự mà còn có ý nghĩa đối với các đương sự trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

1. Cơ sở pháp lý

Căn cứ Điều 6 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 (BLTTDS) tuân thủ pháp luật về nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự được quy định như sau:

“Điều 6. Cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự

1. Đương sự có quyền và nghĩa vụ chủ động thu thập, giao nộp chứng cứ cho Tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp.

Cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện, yêu cầu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác có quyền và nghĩa vụ thu thập, cung cấp chứng cứ, chứng minh như đương sự.

2. Tòa án có trách nhiệm hỗ trợ đương sự trong việc thu thập chứng cứ và chỉ tiến hành thu thập, xác minh chứng cứ trong những trường hợp do Bộ luật này quy định.”

2. Một số khái niệm.

- “Đương sự”: theo khoản 1 Điều 68 BLTTDS 2015 được hiểu như sau: Đương sự trong vụ án dân sự là cơ quan, tổ chức, cá nhân bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Đương sự trong việc dân sự là cơ quan, tổ chức, cá nhân bao gồm người yêu cầu giải quyết việc dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

- “Chứng cứ” theo quy định tại Điều 93 BLTTDS 2015 có quy định như sau: Chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật được đương sự và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho Tòa án trong quá trình tố tụng hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và được Tòa án sử dụng làm căn cứ để xác định các tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp.

- “Chứng minh” theo từ điển Việt – Việt chứng minh được hiểu là căn cứ đó là đúng hay là sai, căn cứ đó có hay không có trên thực tế.

3. Quy định của BLTTDS 2015 về nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự.

Trong TTHS, việc chứng minh tội phạm thuộc trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng. Cơ quan tiến hành tố tụng phải tiến hành thu thập chứng cứ, chứng minh tội phạm. Ngược lại trong TTDS, sự xuất phát từ nguyên tắc về quyền quyết định và tự định đoạt của các đương sự thì các đương sự có quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ  quyền và lợi ích hợp pháp của mình và khi đã thực hiện quyền đo thì họ đồng thời có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp hoặc đưa ra các chứng cứ để phản đối yêu cầu của bên kia, vì không ai khác ngoài các đương sự là người biết rõ nhất nguyên nhân, điều kiện phát sinh tranh chấp hoặc yêu cầu có liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình cũng bằng như bằng chứng để chứng minh cho yêu cầu của mình. Trong hoạt động TTDS, trước hết nguyên đơn là người khởi kiện nên nguyên đơn có quyền và nghĩa vụ chứng minh cho việc thực hiện quyền yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp. Nếu bị đơn không chấp nhận toàn bộ hay một phần yêu cầu của nguyên đơn thì bị đơn phải đưa ra các chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó.

Nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để chứng minh cũng được áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện để bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích Nhà nước hoặc yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. Mặc dù chủ thể này không có lợi ích liên quan đến vụ kiện, nhưng pháp luật quy định họ có quyền khởi kiện vì lợi ích của người khác trong một số trường hợp đặc biệt nên họ được coi là đại diện của nguyên đơn. Vì vậy, họ cũng được hưởng quyền và gánh vác những nghĩa vụ như nguyên đơn trong đó có nghĩa vụ chứng minh.

Khoản 2 Điều 6 Bộ luật TTDS 2015 quy định rõ về trách nhiệm của Tòa án trong việc hỗ trợ đương sự thu thập chứng cứ nhằm đảm bảo đương sự có đủ chứng cứ để họ bảo vệ quyền và lợi ích hợp của mình cũng như khắc phục tình trạng các cá nhân, cơ quan tổ chức gây khó khăn cho đương sự trong việc thu thập chứng cứ. Ngoài ra, để đảm bảo đủ cơ sở để giải quyết vụ việc dân sự thì Tòa án đã được bổ sung các biện pháp thu thập chứng cứ mà không cần phải có yêu cầu đương sự. Đó là, biện pháp trưng cầu giám định khi xét thấy cần thiết (khoản 2 Điều 102); yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý, lưu giữ cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án khi xét thấy cần thiết (khoản 3 Điều 106). Như vậy, khi không có yêu cầu của đương sự, Tòa án được tiến hành một hoặc một số biện pháp thu thập chứng cứ sau theo quy định của BLTTDS 2015: Lấy lời khai của đương sự (khoản 1 Điều 98), lấy lời khai người làm chứng (khoản 1 Điều 99); Đối chất giữa các đương sự với nhau, giữa đương sự với người làm chứng (khoản 1 Điều 100); Xem xét, thẩm định tại chỗ (khoản 1 Điều 101); Trưng cầu giám định (khoản 2 Điều 102); Định giá tài sản (điểm b, c khoản 3 Điều 104); Ủy thác thu thập, xác minh tài liệu, chứng cứ (Điều 105); Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, chứng cứ (khoản 3 Điều 106).

Như vậy, nguyên tắc cung cấp chứng cứ; chứng minh trong TTDS có vai trò và ý nghĩa trong việc góp phần giúp cho đương sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình vì họ có quyền tự đưa ra những chứng cứ chứng minh trong vụ án dân sự; xác định trách nhiệm của Tòa án trong việc xác minh thu thập chứng cứ; là cơ sở để quy định chế tài đối với các cá nhân cơ quan tổ chức đang quản lý và lưu giữ chứng cứ khi cung cấp không đầy đủ kịp thời theo yêu cầu của Tòa án, Viện kiểm sát và cuối cùng nguyên tắc giúp cho việc giải quyết vụ việc dân sự được khách quan, công bằng đúng đắn.

Luật Hoàng Anh

CAM KẾT DỊCH VỤ
  • Đồng hành cùng Thân chủ.
  • Phương án tốt, giải pháp hay.
  • Bảo mật - Uy tín - Tin cậy - Chi phí thấp - Hiệu quả cao.
  • Dịch vụ pháp lý tốt số 2 tại Việt Nam.
  • Cam kết HOÀN TIỀN nếu thực hiện dịch vụ không thành công.

Cảm ơn quý vị và các bạn đã tin tưởng Luật Hoàng Anh, nếu có thắc mắc muốn giải đáp hãy liên hệ ngay cho chúng tôi.

Tổng đài tư vấn pháp luật

Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Dịch vụ Luật Sư uy tín hàng đầu tại Hà Nội.

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

Email: luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Quy định về việc hành nghề của đấu giá viên? Quyền và nghĩa vụ của đấu giá viên theo quy định của pháp luật?

Hỏi đáp luật Dân Sự 03/08/2021

Trên thực tế, đấu giá viên có quyền và nghĩa vụ như thế nào? Đấu giá viên có thể hành nghề theo hình thức nào?

Thủ tục cấp Chứng chỉ hành nghề đấu giá? Trường hợp nào không được cấp Chứng chỉ hành nghề đấu giá?

Hỏi đáp luật Dân Sự 03/08/2021

Luật Đấu giá tài sản năm 2016 đã quy định chặt chẽ hơn về Chứng chỉ hành nghề đấu giá nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ đấu giá viên và tính chuyên nghiệp trong hoạt động hành nghề.

Thu hồi và cấp lại Chứng chỉ hành nghề đấu giá trong trường hợp nào?

Hỏi đáp luật Dân Sự 03/08/2021

Trong một số trường hợp, Chứng chỉ hành nghề đấu giá có thể bị thu hồi hoặc được cấp lại

Thủ tục cấp Thẻ đấu giá viên? Cấp lại và thu hồi Thẻ đấu giá viên trong trường hợp nào?

Hỏi đáp luật Dân Sự 03/08/2021

Người có Chứng chỉ hành nghề đấu giá được Sở Tư pháp cấp Thẻ đấu giá viên theo đề nghị của tổ chức đấu giá tài sản nơi người đó hành nghề

Trường hợp bên đề nghị giao kết hợp đồng chết, mất năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức làm chủ hành vi?

Hỏi đáp luật Dân Sự 04/08/2021

Đề nghị giao kết hợp đồng vẫn có giá trị, trừ trường hợp nội dung giao kết gắn liền với nhân thân bên đề nghị

Thời hạn trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng?

Hỏi đáp luật Dân Sự 04/08/2021

Khi bên đề nghị có ấn định thời hạn trả lời thì việc trả lời chấp nhận chỉ có hiệu lực khi được thực hiện trong thời hạn đó;

Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng?

Hỏi đáp luật Dân Sự 04/08/2021

Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là sự trả lời của bên được đề nghị về việc chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị