Các cặp đôi đồng tính có được nhận con nuôi không?

Trên thế giới hiện nay đã có nhiều nước công nhận hôn nhân đồng giới như Hoa Kỳ, Brazil, Úc, Canada,... Vào tháng 6/2011, Hội đồng nhân quyền của Liên hiệp quốc đã thông qua Nghị quyết khẳng định: "Mọi người đều có quyền bình đẳng, bất kể thiên hướng tình dục như thế nào". Tuy nhiên hôn nhân đồng tính vẫn là vấn đề gây tranh cãi đối ở nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Ngoài ra, tại Việt Nam, một số các vấn đề pháp lý khác như là quan hệ pháp lý giữa cha mẹ và con, nuôi con nuôi, cấp dưỡng hay mang thai hộ đối với các người đồng tính cũng là những thách thức lớn cho các nhà lập pháp.

Vậy thì các cặp đôi đồng tính có được nhận con nuôi không?

Hôn nhân được hiểu là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn. Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn.

Theo đó, nam nữ kết hôn phải thỏa mãn các điều kiện quy định tại Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình 2014:

- Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;

- Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;

- Không bị mất năng lực hành vi dân sự;

- Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm: Kết hôn giả tạo; Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn; Kết hôn với người đang có chồng, có vợ; Kết hôn giữa những người có họ trong phạm vi ba đời….

Hiện nay, chưa có văn bản nào giải thích cụ thể hôn nhân đồng giới là gì. Tuy nhiên, có thể hiểu hôn nhân đồng giới hay hôn nhân đồng tính là hôn nhân giữa hai người có cùng giới tính.

Trước đây tại Điều 10 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 cấm việc kết hôn giữa những người có cùng giới tính. Tuy nhiên cho đến Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, tại khoản 2 Điều 8 nêu: “Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính”. Tức là luật không còn ngăn cấm kết hôn đồng tính nhưng cũng chưa thừa nhận vấn đề này. Do đó, các cặp đôi đồng tính hiện nay vẫn chưa được pháp luật Việt Nam thừa nhận là một cuộc hôn nhân hợp pháp. Các cặp đôi đồng tính hiện nay chỉ có sống chung với nhau và không có mối quan hệ ràng buộc mang tính pháp lý về quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng, cấp dưỡng và tài sản chung hình thành trong thời kỳ hôn nhân,…

Mặc dù không được pháp luật Việt Nam công nhận nhưng hiện nay, có khá nhiều cặp đôi đồng tính đang sống chung với nhau như vợ chồng. Và không ít trong số đó rất mong muốn có được một người con nuôi.

Theo quy định tại Luật Nuôi con nuôi 2010, việc nhận con nuôi sẽ xác lập quan hệ cha, mẹ, con một cách lâu dài, bền vững, vì lợi ích tốt nhất của người con, đảm bảo cho người con được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trong môi trường gia đình. Việc nhận con nuôi phải đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của cả người nhận nuôi và người được nhận nuôi, dựa trên tinh thần tự nguyện, bình đẳng, không phân biệt nam nữ, không trái đạo đức, xã hội.

Theo khoản 3 Điều 8 Luật Nuôi con nuôi 2010:

“Điều 8. Người được nhận làm con nuôi

3. Một người chỉ được làm con nuôi của một người độc thân hoặc của cả hai người là vợ chồng.”

Một người chỉ được làm con nuôi của một người độc thân hoặc của cả hai người là vợ chồng. Vì cặp đôi đồng tính hiện vẫn chưa được pháp luật Việt Nam thừa nhận là một cặp vợ chồng hợp pháp nên không thỏa mãn điều kiện để cùng đứng ra nhận con nuôi. Nhưng một trong hai người có thể làm thủ tục nhận con nuôi trong trường hợp là một người độc thân.

Khi đó, người đăng ký nhận con nuôi phải đáp ứng được các yêu cầu quy định tại Điều 14 Luật Nuôi con nuôi 2010:

“Điều 14. Điều kiện đối với người nhận con nuôi

1. Người nhận con nuôi phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;

b) Hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên;

c) Có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi;

d) Có tư cách đạo đức tốt.

2. Những người sau đây không được nhận con nuôi:

a) Đang bị hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên;

b) Đang chấp hành quyết định xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh;

c) Đang chấp hành hình phạt tù;

d) Chưa được xóa án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của người khác; ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình; dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thanh niên vi phạm pháp luật; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em.”

Như vậy, Việt Nam chưa thừa nhận quan hệ hôn nhân giữa hai người có cùng giới tính nên các cặp đôi đồng tính hiện chưa thể nhận chung con nuôi được. Tuy nhiên một trong hai người này nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện luật định thì vẫn có thể nhận con nuôi trên danh nghĩa một người độc thân.

Luật Hoàng Anh

CAM KẾT DỊCH VỤ
  • Đồng hành cùng Thân chủ.
  • Phương án tốt, giải pháp hay.
  • Bảo mật - Uy tín - Tin cậy - Chi phí thấp - Hiệu quả cao.
  • Dịch vụ pháp lý tốt số 2 tại Việt Nam.
  • Cam kết HOÀN TIỀN nếu thực hiện dịch vụ không thành công.

Cảm ơn quý vị và các bạn đã tin tưởng Luật Hoàng Anh, nếu có thắc mắc muốn giải đáp hãy liên hệ ngay cho chúng tôi.

Tổng đài tư vấn pháp luật

Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Dịch vụ Luật Sư uy tín hàng đầu tại Hà Nội.

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

Email: luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Cha, mẹ được quyền đại diện cho con khi nào?

Tư vấn Hôn nhân Gia đình 15/07/2021

Đại diện là một chế định quan trọng trong đời sống pháp lý xã hội. Pháp luật hiện hành quy định việc đại diện theo pháp luật của cha, mẹ đối với con chưa thành niên như thế nào?

Nuôi con nuôi là gì?

Tư vấn Hôn nhân Gia đình 15/07/2021

Việc nhận con nuôi, nhận cha mẹ nuôi đã và đang được thực hiện phổ biến trong đời sống hàng ngày. Thực tế, pháp luật đã đưa ra những quy định về vấn đề này như thế nào?

Thế nào là nghĩa vụ và quyền giáo dục con của cha mẹ?

Tư vấn Hôn nhân Gia đình 15/07/2021

Có thể thấy, bên cạnh việc chăm sóc, nuôi dưỡng con thì việc giáo dục con là công việc hết sức quan trọng của cha mẹ.

Nguyên tắc xác định cha, mẹ, con theo quy định của pháp luật là gì?

Tư vấn Hôn nhân Gia đình 15/07/2021

Xác định cha, mẹ, con là một vấn đề rất quan trọng, bởi, từ việc xác định cha, mẹ cho con sẽ làm phát sinh ra rất nhiều vấn đề liên quan đến quyền nhân thân và quyền tài sản đối với các thành viên trong gia đình.