Căn cứ, thủ tục chấm dứt việc nuôi con nuôi là gì?

Nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha, mẹ và con giữa người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi. Việc nuôi con nuôi nhằm xác lập quan hệ cha, mẹ và con lâu dài, bền vững, vì lợi ích tốt nhất của người được nhận làm con nuôi, bảo đảm cho con nuôi được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trong môi trường gia đình. Về nguyên tắc, việc nuôi con nuôi phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người được nhận làm con nuôi và người nhận con nuôi, tự nguyện, bình đẳng, không phân biệt nam nữ, không trái pháp luật và đạo đức xã hội.

Trong một số trường hợp, ví dụ như vi phạm các hành vi bị cấm theo luật thì việc nuôi con nuôi có thể bị chấm dứt. Việc chấm dứt nuôi con nuôi được thực hiện theo thủ tục nhất định theo pháp luật về tố tụng dân sự.

1. Căn cứ chấm dứt việc nuôi con nuôi

Căn cứ chấm dứt việc nuôi con nuôi được quy định tại Điều 25 Luật nuôi con nuôi năm 2010, theo đó:

Việc nuôi con nuôi có thể bị chấm dứt trong các trường hợp sau đây:

- Con nuôi đã thành niên và cha mẹ nuôi tự nguyện chấm dứt việc nuôi con nuôi;

- Con nuôi bị kết án về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của cha mẹ nuôi; ngược đãi, hành hạ cha mẹ nuôi hoặc con nuôi có hành vi phá tán tài sản của cha mẹ nuôi;

- Cha mẹ nuôi bị kết án về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con nuôi; ngược đãi, hành hạ con nuôi;

- Vi phạm quy định tại Điều 13 của Luật này.

2. Tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi

Điều 26 Luật nuôi con nuôi năm 2010 quy định các tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi bao gồm:

- Cha mẹ nuôi.

- Con nuôi đã thành niên.

- Cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ của con nuôi.

- Cơ quan, tổ chức sau đây có quyền yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi khi có một trong các căn cứ quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 25 của Luật này:

+ Cơ quan lao động, thương binh và xã hội;

+ Hội liên hiệp phụ nữ.

Ví dụ, vợ chồng chị A cho con gái mình là cháu C làm con nuôi vợ chồng chị B từ năm cháu được 11 tháng tuổi và đến nay cháu đã đủ 9 tuổi (có làm thủ tục cho nhận con nuôi). vợ chồng chị B nhiều lần hành hạ, ngược đãi cháu C và đã bị Tòa án xét xử và kết án về hành vi vi phạm này. Như vậy vợ chồng chị A được quyền yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi của vợ chồng chị B

 

3. Thẩm quyền giải quyết yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi

Căn cứ khoản 5 Điều 29, điểm b, khoản 2, Điều 35; điểm l khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 10 Luật nuôi con nuôi năm 2010:

Tòa án nhân dân là cơ quan có thẩm quyền giải quyết yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Cụ thể: Tòa án nhân dân cấp huyện nơi cha, mẹ nuôi hoặc con nuôi cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi.

4. Thủ tục giải quyết yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi

- Bước 1: Gửi đơn yêu cầu giải quyết việc chấm dứt nuôi con nuôi đến Tòa án nhân dân có thẩm quyền (theo mẫu Đơn yêu cầu tòa án giải quyết việc dân sự được quy định tại Điều 362 Bộ luật tố tụng dân sự). Đơn yêu cầu phải có các nội dung chính sau đây:

“Điều 362. Đơn yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự

a) Ngày, tháng, năm làm đơn;

b) Tên Tòa án có thẩm quyền giải quyết việc dân sự;

c) Tên, địa chỉ; số điện thoại, fax, địa chỉ thư điện tử (nếu có) của người yêu cầu;

d) Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết và lý do, mục đích, căn cứ của việc yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự đó;

đ) Tên, địa chỉ của những người có liên quan đến việc giải quyết việc dân sự đó (nếu có);

e) Các thông tin khác mà người yêu cầu xét thấy cần thiết cho việc giải quyết yêu cầu của mình;

g) Người yêu cầu là cá nhân phải ký tên hoặc điểm chỉ, nếu là cơ quan, tổ chức thì đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó phải ký tên và đóng dấu vào phần cuối đơn; trường hợp tổ chức yêu cầu là doanh nghiệp thì việc sử dụng con dấu được thực hiện theo quy định của Luật doanh nghiệp.

Như vậy, để chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi, cần làm đơn yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi kèm theo đơn yêu cầu là tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp (ví dụ như sổ hộ khẩu, Giấy khai sinh của con nuôi, Giấy chứng nhận nuôi con nuôi...) gửi tới Tòa án nhân dân cấp huyện nơi A đang có hộ khẩu cùng bố mẹ nuôi để được giải quyết theo quy định.

- Bước 2: Tòa án sẽ tiến hành mở phiên tòa giải quyết việc dân sự: Tòa án sẽ ra quyết định về việc giải quyết chấm dứt việc nuôi con nuôi, người yêu cầu giải quyết việc dân sự nộp lệ phí, án phí theo quy định của pháp luật

- Bước 3: Kháng cáo, kháng nghị quyết định của Tòa án (nếu có) : Nếu cha nuôi, mẹ nuôi, con nuôi, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham dự phiên tòa giải quyết việc nuôi con nuôi không có kháng cáo với quyết định của tòa cho chấm dứt việc nuôi con nuôi, thì quyết định của tòa án sẽ có hiệu lực pháp luật.

 

5. Hệ quả của việc chấm dứt nuôi con nuôi

Việc chấm dứt nuôi con nuôi dẫn đến những hệ quả như sau theo Điều 24 Luật nuôi con nuôi 2010:

              “Điều 24. Hệ quả của việc nuôi con nuôi

1. Quyền, nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi chấm dứt kể từ ngày quyết định chấm dứt nuôi con nuôi của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

2. Trường hợp con nuôi là người chưa thành niên hoặc đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động thì Tòa án quyết định giao cho cha mẹ đẻ hoặc tổ chức, cá nhân khác chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục vì lợi ích tốt nhất của người đó.

3. Trường hợp con nuôi được giao cho cha mẹ đẻ thì các quyền, nghĩa vụ của cha mẹ đẻ đã chấm dứt theo quy định tại khoản 4 Điều 24 của Luật này được khôi phục.

4. Trường hợp con nuôi có tài sản riêng thì được nhận lại tài sản đó; nếu con nuôi có công lao đóng góp vào khối tài sản chung của cha mẹ nuôi thì được hưởng phần tài sản tương xứng với công lao đóng góp theo thỏa thuận với cha mẹ nuôi; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

5. Con nuôi có quyền lấy lại họ, tên của mình như trước khi được cho làm con nuôi.”

Khi đó, con nuôi được lấy lại họ tên của mình trước khi được cho làm con nuôi, nhận lại tài sản riêng và phần tài sản đóng góp vào khối tài sản chung của cha mẹ nuôi. Nếu con chưa thành niên hoặc đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động thì được giao cho cha mẹ đẻ hoặc tổ chức khác chăm sóc nhằm đảm bảo quyền lợi tốt nhất của mình. Các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đẻ cũng được khôi phục.

Luật Hoàng Anh

Tổng đài tư vấn pháp luật

0908 308 123
Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

0908 308 123

luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Những người cùng giới tính có được kết hôn không?

Tư vấn Hôn nhân Gia đình 28/06/2021

Người đồng giới có được kết hôn theo quy định của pháp luật?

Trường hợp xác nhận lại giới tính có được kết hôn không?

Tư vấn Hôn nhân Gia đình 28/06/2021

Xác nhận lại giới tính khác với việc chuyển đổi giới tính. Vậy xác nhận lại giới tính có được kết hôn không

Vợ chồng đã ly hôn có kết hôn lại được không?

Tư vấn Hôn nhân Gia đình 28/06/2021

Ly hôn nhưng sau đó lại muốn hàn gắn, kết hôn lại với nhau có được pháp luật cho phép không