Chia quyền sử dụng đất của vợ chồng khi ly hôn theo Luật định

Ngày nay vấn đề ly hôn ở nước ta không còn là một vấn đề hiếm có. Xã hội phát triển nhu cầu sống của con người ngày càng cao. Vì những lí do về mặt tình cảm, nhu cầu cuộc sống, kinh tế bản thân … mà các vụ việc ly hôn xảy ra ngày càng nhiều. Ly hôn không chỉ làm sứt mẻ đi cuộc sống, tình cảm, tâm lý của các thành viên trong gia đình mà kéo theo biết bao những vấn đề về tranh chấp tài sản. Luật hôn nhân và gia đình luôn tôn trọng quyền thỏa thuận của vợ chồng và khuyến khích sự tự nguyện thỏa thuận của đôi bên trong việc phân chia tài sản nói chung và chia quyền sử dụng đất nói riêng khi ly hôn. Tuy nhiên nếu vợ chồng không tìm được tiếng nói chung thì có thể nhờ đến sự can thiệp của pháp luật bằng cách yêu cầu Tòa án giải quyết.

1. Chia quyền sử dụng đất của vợ, chồng khi ly hôn.

Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án (quy định tại khoản 14 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình 2014).

Tại Điều 62 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định về “Chia quyền sử dụng đất của vợ chồng khi ly hôn”:

Thứ nhất, Quyền sử dụng đất là tài sản riêng của bên nào thì khi ly hôn vẫn thuộc về bên đó (như được hưởng thừa kế riêng, tặng cho riêng, …). Điều này thể hiện đây là tài sản riêng và tài sản riêng này có thể hình thành trong thời kỳ hôn nhân và ngoài thời kỳ hôn nhân.

Thứ hai, việc chia quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn được thực hiện nhau sau:

  • Với đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản, nếu cả hai bên đều có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì được chia theo thỏa thuận của hai bên; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định tại Điều 59 của Luật hôn nhân và gia đình. Trong trường hợp chỉ một bên có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì bên đó được trực tiếp tục sử dụng nhưng phải thanh toán cho bên kia phần giá trị quyền sử dụng đất mà họ được hưởng.
  • Trong trường hợp vợ chồng có quyền sử dụng đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản chung với hộ gia đình thì khi ly hôn phần quyền sử dụng đất của vợ chồng được tách ra và chia theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 62 của Luật này.
  • Đối với đất nông nghiệp trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở thì được chia theo quy định tại Điều 59 của Luật này.
  • Đối với loại đất khách thì được chia theo quy định của pháp luật về đất đai.

Về án phí chia tài sản chung vợ chồng khi ly hôn thì theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định: “Trong vụ án ly hôn thì nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm, không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn”. Như vậy nếu khởi kiện ly hôn thì sẽ phải nộp án phí sơ thẩm. Mức án phí dân sự sơ thẩm phải nộp là 300.000 đồng. Trong trường hợp có tranh chấp về việc chia tài sản chung của vợ chồng thì phải chịu án phí chia tài sản chung đối với phần tài sản có tranh chấp như án dân sự có giá ngạch tương ứng với giá trị phần tài sản được chia.

Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà không có quyền sử dụng đất chung với hộ gia đình thì khi ly hôn quyền lợi của bên không có quyền sử dụng đất và không tiếp tục sống chung với gia đình được giải quyết theo quy định tại Điều 61 của Luật này:

“1, Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà ly hôn, nếu tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình không xác định được thì vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình căn cứ vào công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo lập, duy trì, phát triển khối tài sản chung cũng như vào đời sống chung của gia đình. Việc chia một phần trong khối tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận với gia đình nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

2, Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình có thể xac định được theo phần thì khi ly hôn, phần tài sản của vợ chồng được trích ra từ khối tài sản chung đó để chia theo quy định tại Điều 59 của Luật hôn nhân và gia đình”.

2. Chia nhà ở thuộc sở hữu chung hoặc riêng của vợ chồng.

Trong trường hợp nhà ở thuộc sở hữu chung của vợ chồng có thể chia để sử dụng thì khi ly hôn được chia theo quy định về nguyên tắc chia tài sản sau ly hôn, nếu không thể chia được thì bên được tiếp tục sử dụng nhà ở phải thanh toán cho bên kia phần trăm giá trị mà họ được hưởng.

Trong trường hợp nhà ở thuộc sở hữu riêng của một bên đã được đưa vào sử dụng chung thì khi ly hôn, nhà ở đó vẫn thuộc sở hữu riêng của chủ sở hữu nhà, nhưng phải thanh toán cho bên kia một phần giá trị nhà, căn cứ vào công sức bảo dưỡng, nâng cấp, cải tạo, sửa chữa nhà. Trường hợp vợ hoặc chồng có khó khăn về chỗ ở thì được quyền lưu cư trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày quan hệ hôn nhân chấm dứt, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác (quy định tại Điều 63 Luật hôn nhân và gia đình 2014).

Ngoài ra, vợ, chồng đang thực hiện hoạt động kinh doanh liên quan đến tài sản chung có quyền được nhận tài sản đó và phải thanh toán cho bên kia phần trăm giá trị tài sản mà họ được hưởng, trừ trường hợp pháp luật về kinh doanh có quy định khác (quy định tại ĐIều 64 của Luật này về chia tài sản chung của vợ chồng đưa vào kinh doanh).

Luật Hoàng Anh

CAM KẾT DỊCH VỤ
  • Đồng hành cùng Thân chủ.
  • Phương án tốt, giải pháp hay.
  • Bảo mật - Uy tín - Tin cậy - Chi phí thấp - Hiệu quả cao.
  • Dịch vụ pháp lý tốt số 2 tại Việt Nam.
  • Cam kết HOÀN TIỀN nếu thực hiện dịch vụ không thành công.

Cảm ơn quý vị và các bạn đã tin tưởng Luật Hoàng Anh, nếu có thắc mắc muốn giải đáp hãy liên hệ ngay cho chúng tôi.

Tổng đài tư vấn pháp luật

Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Dịch vụ Luật Sư uy tín hàng đầu tại Hà Nội.

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

Email: luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan