Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của vợ chồng là gì?

Tài sản là vấn đề trung tâm, cốt lõi của mối quan hệ xã hội nói chung và quan hệ pháp luật nói riêng. Tài sản được hiểu là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản. Tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai. Tài sản chung của vợ chồng theo quy định tại Bộ luật dân sự 2015 là những tài sản vợ chồng cùng nhau tạo lập, phát triển là khối sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia.

Cụ thể hơn, những tài sản chung này được quy định tại Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 như sau:

“Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân (trừ trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng thì phần tài sản được chia, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của mỗi bên); tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.”

Trong quan hệ hôn nhân gia đình, luật không chỉ quy định về việc xác định tài sản chung, mà còn quy định nguyên tắc chung trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của hai vợ chồng.

1. Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản là gì?

Điều 179, Điều 189, Điều 192 quy định lần lượt về chiếm hữu, sử dụng, định đoạt như sau:

- Chiếm hữu là việc chủ thể nắm giữ, chi phối tài sản một cách trực tiếp hoặc gián tiếp như chủ thể có quyền đối với tài sản. Ví dụ: chồng trực tiếp giữ và quản lý chiếc xe ô tô.

Chiếm hữu bao gồm chiếm hữu của chủ sở hữu và chiếm hữu của người không phải là chủ sở hữu.

- Quyền sử dụng là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản.

- Quyền sử dụng có thể được chuyển giao cho người khác theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật

Ví dụ: vợ chồng sử dụng nhà ở cho thuê để tạo thu nhập hàng tháng

- Quyền định đoạt là quyền chuyển giao quyền sở hữu tài sản, từ bỏ quyền sở hữu, tiêu dùng hoặc tiêu hủy tài sản.

2. Nguyên tắc chung trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của hai vợ chồng

Điều 35 của Luật Hôn nhân và gia đình quy định như sau:

“Điều 35. Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung

1. Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận.

2. Việc định đoạt tài sản chung phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng trong những trường hợp sau đây:

a) Bất động sản;

b) Động sản mà theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu;

c) Tài sản đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình.”

Nghị định 126/2014/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và gia đình đã hướng dẫn quy tấc trên tại Điều 13, cụ thể:

Điều 13. Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của vợ chồng

- Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận.

- Trong trường hợp vợ hoặc chồng xác lập, thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản chung để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình thì được coi là có sự đồng ý của bên kia, trừ trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 35 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Vợ, chồng có nghĩa vụ bảo đảm điều kiện để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình. Theo quy định này, nếu vợ hoặc chồng thực hiện vay/ mượn tiền, tài sản hoặc bán/ trao đổi một tài sản chung của vợ chồng, cho dù chồng hoặc vợ của họ không hề biết nhưng nếu mục đích của giao dịch nhằm để đáp ứng các nhu cầu thiết yếu trong gia đình thì giao dịch đó vẫn có giá trị pháp lý. Do vậy, nghĩa vụ tài sản phát sinh từ giao dịch, cả hai vợ chồng phải liên đới chịu trách nhiệm. để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình thì thực tiễn tùy hoàn cảnh mỗi gia đình sẽ có rất nhiều cách khác nhau. Do đó, vợ/chồng có thể tự mình xác lập giao dịch cả trong hai trường hợp nhằm trực tiếp hoặc gián tiếp đáp ứng các nhu cầu thiết yếu của gia đình.

- Việc định đoạt tài sản chung phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng trong những trường hợp sau đây:

a) Bất động sản;

b) Động sản mà theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu;

c) Tài sản đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình.

Trong trường hợp vợ hoặc chồng định đoạt tài sản chung vi phạm quy định tại Khoản 2 Điều 35 của Luật Hôn nhân và gia đình thì bên kia có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu và giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch vô hiệu.

Chỉ những giao dịch hợp pháp mới làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên và được Nhà nước bảo đảm thực hiện. Trong trường hợp trên, giao dịch không tuân thủ điều kiện về hình thức là phải có văn bản thể hiện sự thỏa thuận của hai vợ chồng, do đó sẽ bị tuyên bô hiệu.

Có thể lý giải,  các giao dịch liên quan đến những tài sản trên thường có giá trị lớn; do đó cũng sẽ ảnh hưởng lớn đến khối tài sản chung của vợ chồng cũng như đời sống chung của gia đình. Vì vậy, pháp luật yêu cầu cần có sự bàn bạc, xem xét kỹ lưỡng từ cả hai vợ chồng thông qua việc thỏa thuận thành văn bản giữa hai bên.

Từ nguyên tắc này, có thể xác định tính hợp pháp của các hành vi thực hiện quyền sở hữu tài sản chung của vợ chồng. Đồng thời đây cũng là quy tắc để vợ chồng tuân theo khi thực hiện quyền của mình đối với tài sản chung

Vợ/chồng có thể đại diện cho nhau để xác lập, thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản chung. Họ có thể thực hiện điều này với tư cách là người đại diện theo ủy quyền hoặc đại diện theo pháp luật.

Luật Hoàng Anh

Tổng đài tư vấn pháp luật

0908 308 123
Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

0908 308 123

luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Những người cùng giới tính có được kết hôn không?

Tư vấn Hôn nhân Gia đình 28/06/2021

Người đồng giới có được kết hôn theo quy định của pháp luật?

Trường hợp xác nhận lại giới tính có được kết hôn không?

Tư vấn Hôn nhân Gia đình 28/06/2021

Xác nhận lại giới tính khác với việc chuyển đổi giới tính. Vậy xác nhận lại giới tính có được kết hôn không

Vợ chồng đã ly hôn có kết hôn lại được không?

Tư vấn Hôn nhân Gia đình 28/06/2021

Ly hôn nhưng sau đó lại muốn hàn gắn, kết hôn lại với nhau có được pháp luật cho phép không