Đặc điểm chế độ tài sản của vợ chồng

Chế độ tài sản của vợ chồng là chế độ tài sản bao gồm tất cả các quy định về quan hệ sở hữu tài sản của vợ chồng, bao gồm căn cứ, nguồn gốc xác lập tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng, quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng đối với các loại tài sản đó và nguyên tắc phân chia tài sản của vợ, chồng. Các quy định về chế độ tài sản của vợ chồng không chỉ là căn cứ pháp lý để vợ chồng thực hiện các quyền và nghĩa vụ tài sản của mình mà còn là cơ sở để giải quyết các tranh chấp về tài sản phát sinh giữa vợ với chồng, giữa vợ chồng với người thứ ba. Vậy chế độ tài sản của vợ chồng mang những đặc điểm gì? Theo dõi bài viết dưới đây của Luật Hoàng Anh để biết được câu trả lời. 
Điều 28 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về việc áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng:
“1. Vợ chồng có quyền lựa chọn áp dụng chế độ tài sản theo luật định hoặc chế độ tài sản theo thỏa thuận.
Chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định được thực hiện theo quy định tại các điều từ Điều 33 đến Điều 46 và từ Điều 59 đến Điều 64 của Luật này.
Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận được thực hiện theo quy định tại các điều 47, 48, 49, 50 và 59 của Luật này.
2. Các quy định tại các điều 29, 30, 31 và 32 của Luật này được áp dụng không phụ thuộc vào chế độ tài sản mà vợ chồng đã lựa chọn.
3. Chính phủ quy định chi tiết về chế độ tài sản của vợ chồng”.
 
Theo các quy định trên, chế độ tài sản của vợ chồng có những đặc điểm sau:
- Chủ thể của quan hệ sở hữu trong chế độ tài sản này phải có quan hệ hôn nhân hợp pháp. Để trở thành chủ thể của quan hệ sở hữu này, các bên nam, nữ phải có đủ năng lực chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự và phải tuân thủ các điều kiện kết hôn được quy định tại Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Bên cạnh đó, chế độ tài sản của vợ chồng cũng không tồn tại giữa những người chỉ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn. Như vậy, chủ thể của quan hệ sở hữu trong chế độ tài sản của vợ chồng phải là vợ, chồng được pháp luật công nhận qua sự kiện kết hôn hợp pháp. 
- Xuất phát từ vai trò quan trọng của gia đình đối với xã hội, pháp luật quy định về chế độ tài sản của vợ chồng luôn hướng đến mục tiêu bảo đảm quyền lợi của gia đình, trong đó có lợi ích cá nhân của vợ, chồng. Chế độ tài sản của vợ chồng dù theo thỏa thuận hay theo luật định vẫn đảm bảo quyền lợi của gia đình đầu tiền, đặc biệt là những nhu cầu thiết yếu để duy trì cuộc sống. Bên cạnh đó, chế độ tài sản của vợ chồng cũng góp phần bảo vệ lợi ích của cá nhân vợ, chồng. Trong đó chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận giúp vợ, chồng có thể đảm bảo tối ưu quyền tự định đoạt của riêng mình đối với tài sản cá nhân. 
- Chế độ tài sản của vợ chồng chỉ tồn tại trong thời kì hôn nhân. Mặc dù có thể được thỏa thuận trước khi hôn nhân xác lập (đối với chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận) nhưng chế độ tài sản của vợ chồng chỉ có hiệu lực trong thời kỳ hôn nhân. Trước khi nam và nữ trở thành vợ, chồng hợp pháp của nhau thì giữa họ không có chế độ tài sản của vợ chồng. Trong trường hợp hai bên đã lập văn bản thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng, văn bản này đã được công chứng hoặc chứng thực nhưng việc kết hôn không diễn ra thì thỏa thuận về chế độ tài sản này cũng vô hiệu. Sau khi quan hệ vợ chồng chấm dứt, chế độ tài sản của vợ chồng cũng đồng thời chấm dứt. Bởi vậy mà chế độ tài sản của vợ chồng không bao gồm vấn đề thừa kế hay vấn đề cấp dưỡng, mặc dù các vấn đề này cũng liên quan trực tiếp đến tài sản của vợ, chồng. 
- Chế độ tài sản của vợ chồng mang những đặc thù riêng trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của chủ thể. Thông thường những người có tài sản riêng có quyền tự mình định đoạt mà không phụ thuộc ý chí của người khác. Tuy nhiên trong chế độ tài sản của vợ chồng, dù là chế độ tài sản luật định hay chế độ tài sản theo thỏa thuận thì quyền định đoạt của chủ sở hữu có thể bị hạn chế trong một số trường hợp nhất định. Ví dụ: giao dịch liên quan đến nhà ở là chỗ ở duy nhất của gia đình. Bởi đặc thù của quan hệ gia đình là dựa trên nền tảng tình cảm và huyết thống nên dù cá nhân có quyền định đoạt tài sản riêng mà không phụ thuộc ý chí của người khác thì trong quan hệ hôn nhân, quyền tự định đoạt tài sản không mang tính chất tuyệt đối.  


Luật Hoàng Anh 

 

Tổng đài tư vấn pháp luật

0908 308 123
Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

0908 308 123

luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Chồng thế chấp nhà ở có cần hỏi ý kiến của vợ không?

Tư vấn Hôn nhân Gia đình 16/06/2021

Trường hợp thế chấp nhà ở thì chồng có cần hỏi ý kiến vợ hay tự quyết định

Đặc điểm chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận

Tư vấn Hôn nhân Gia đình 16/06/2021

Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận được xác lập dựa trên sự bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau

Đặc điểm của quan hệ đại diện giữa vợ và chồng

Tư vấn Hôn nhân Gia đình 16/06/2021

Đại diện giữa vợ và chồng là một chế định quan trọng trong luật hôn nhân và gia đình

Đại diện theo pháp luật giữa vợ và chồng là gì

Tư vấn Hôn nhân Gia đình 16/06/2021

Quan hệ đại diện giữa vợ và chồng được pháp luật quy định như thế nào

Đại diện theo ủy quyền giữa vợ và chồng là gì

Tư vấn Hôn nhân Gia đình 16/06/2021

Việc đại diện theo ủy quyền giữa vợ và chồng được pháp luật quy định như thế nào