Đặc điểm quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng về tài sản trong chế độ tài sản theo luật định

Trong đời sống chung, vợ, chồng sẽ phải thực hiện những quan hệ về tài sản nhằm đáp ứng những nhu cầu thiết yếu của gia đình. Những quan hệ này gọi chung là chế độ tài sản của vợ, chồng vàchịu sự điều chỉnh trực tiếp của pháp luật dân sự, pháp luật về hôn nhân và gia đình. Chế độ tài sản của vợ chồng luôn được nhà nước và các nhà làm luật quan tâm xây dựng như là một trong các chế định cơ bản, quan trọng nhất của quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình. Trong bài viết dưới đây, Luật Hoàng Anh sẽ trình bày vấn đề đặc điểm quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng về tài sản trong chế độ tài sản theo luật định. 


1. Khái niệm quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng về tài sản trong chế độ tài sản theo luật định


Hiện nay pháp luật nước ta vẫn chưa có một khái niệm về chế độ tài sản của vợ, chồng được quy định hay hướng dẫn trong một văn bản cụ thể nào. Có thể hiểu một cách đơn giản: “Chế độ tài sản của vợ, chồng là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh về tài sản của vợ, chồng bao gồm các quy định về căn cứ xác lập tài sản, quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng; các trường hợp và nguyên tắc phân chia tài sản giữa vợ và chồng theo quy định của pháp luật” (Ths Quách Văn Dương (2019), Chế độ hôn nhân và chế độ tài sản của vợ, chồng theo pháp luật hôn nhân và gia đình, Nxb Tư pháp, Hà Nội, trang 147).
Từ đó có thể định nghĩa quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng đối với tài sản trong chế độ tài sản theo luật định là tổng hợp các quy phạm pháp luật quy định những vấn đề liên quan tài sản mà vợ, chồng được hưởng, được làm, được đòi hỏi mà không ai được ngăn cản, hạn chế trong thời kỳ hôn nhân, đồng thời xác định vợ, chồng phải cùng chịu trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ về tài sản đối với bên có quyền  hoặc việc một bên vợ, chồng tự mình thực hiện nghĩa vụ tài sản đối với người có quyền. 


2. Đặc điểm về quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng về tài sản trong chế độ tài sản theo luật định


- Chủ thể của chế định quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng đối với tài sản trong chế độ tài sản theo luật định phải là vợ, chồng. Nghĩa là giữa các bên phải tồn tại quan hệ hôn nhân hợp pháp, là vợ, chồng của nhau trước pháp luật. 
Theo Khoản 4, Điều 2 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06 tháng 01 năm 2016 hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình được xác định là người đang tồn tại một quan hệ hôn nhân hợp pháp nếu thuộc một trong các trường hợp sau:
"a) Người đã kết hôn với người khác theo đúng quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình nhưng chưa ly hôn hoặc không có sự kiện vợ (chồng) của họ chết hoặc vợ (chồng) của họ không bị tuyên bố là đã chết;
b) Người xác lập quan hệ vợ chồng với người khác trước ngày 03-01-1987 mà chưa đăng ký kết hôn và chưa ly hôn hoặc không có sự kiện vợ (chồng) của họ chết hoặc vợ (chồng) của họ không bị tuyên bố là đã chết;
c) Người đã kết hôn với người khác vi phạm điều kiện kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình nhưng đã được Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân bằng bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật và chưa ly hôn hoặc không có sự kiện vợ (chồng) của họ chết hoặc vợ (chồng) của họ không bị tuyên bố là đã chết".

- Quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng đối với tài sản trong chế độ tài sản theo luật định phát sinh và chấm dứt phụ thuộc vào thời kỳ hôn nhân. 
Thời kỳ hôn nhân là khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ, chồng được tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân. Thời kỳ hôn nhân là khoảng thời gian để xác định quyền và nghĩa vụ về tài sản của vợ, chồng, quyền và nghĩa vụ về tài sản phát sinh trước thời kỳ hôn nhân hoặc sau khi hôn nhân chấm dứt được xác định là quyền và nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ, chồng.
Ví dụ: Anh A vay 30 triệu để mua xe máy đi làm. Một năm sau anh A kết hôn với chị B, số tiền nợ còn lại chưa trả của anh A là nghĩa vụ riêng về tài sản của anh A, không liên quan đến chị B. 
Theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình, thời điểm bắt đầu của thời kỳ hôn nhân được tính từ khi hai bên nam, nữ đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được cấp giấy chứng nhận kết hôn hoặc kể từ ngày hai bên bắt đầu chung sống từ trước ngày 03/01/1987 mà chưa đăng ký kết hôn đến khi quan hệ hôn nhân chấm dứt. 


Luật Hoàng Anh 

Tổng đài tư vấn pháp luật

0908 308 123
Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

0908 308 123

luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng là gì?

Tư vấn Hôn nhân Gia đình 16/06/2021

Trong đời sống hôn nhân, vợ và chồng phải có những nghĩa vụ chung về tài sản, về con cái

Nguyên tắc chung về chế độ tài sản của vợ chồng được quy định thế nào?

Tư vấn Hôn nhân Gia đình 16/06/2021

Pháp luật hôn nhân và gia đình quy định như thế nào về nguyên tắc chung về chế độ tài sản của vợ, chồng