Đại diện theo ủy quyền giữa vợ và chồng là gì

Đại diện giữa vợ và chồng là việc một bên vợ hoặc chồng nhân danh người kia hoặc nhân danh cả vợ chồng xác lập, thực hiện, chấm dứt giao dịch theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, Bộ luật Dân sự và các pháp luật khác liên quan. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã có những bước hoàn thiện rõ rệt, tạo hành lang pháp lý quan trọng trong việc thực thi các vấn đề về hôn nhân gia đình nói chung, về đại diện giữa vợ và chồng nói riêng. Trong phạm vi bài viết này, Luật Hoàng Anh sẽ trình bày về vấn đề đại diện theo ủy quyền giữa vợ và chồng. 


I. Đại diện theo ủy quyền giữa vợ và chồng là gì?


Đại diện theo ủy quyền là đại diện được xác lập theo sự ủy quyền giữa người đại diện và người được đại diện. Đại diện theo ủy quyền là trường hợp qian hệ đại diện dược xác lập theo ý chí của hai bên: bên đại diện và bên được đại diện, biểu hiện qua hợp đồng ủy quyền hoặc giấy ủy quyền. 
Khoản 2 Điều 24 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:
“2. Vợ, chồng có thể ủy quyền cho nhau xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch mà theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan phải có sự đồng ý của cả hai vợ chồng”. 
Theo quy định trên, vợ chồng có thể ủy quyền cho nhau xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch phải có sự đồng ý của cả hai vợ chồng. Đại diện theo ủy quyền giữa hai vợ chồng được đặt ra khi vợ chồng tham gia vào những giao dịch bắt buộc phải có được sự đồng ý của cả vợ và chồng nhưng một bên không trực tiếp tham gia giao dịch thì có thể ủy quyền cho người còn lại thực hiện giao dịch đó. Và với tư cách là người đại diện theo ủy quyền, người vợ hoặc người chồng đó có quyền thực hiện các giao dịch vì lợi ích chung của vợ chồng hoặc lợi ích của người ủy quyền trong phạm vi được ủy quyền.


II. Nội dung pháp lý của đại diện theo ủy quyền giữa vợ và chồng. 


1. Chủ thể trong quan hệ đại diện theo ủy quyền giữa vợ và chồng
Mối quan hệ giữa các chủ thể trong quan hệ đại diện theo ủy quyền giữa vợ và chồng là  mối quan hệ hôn nhân. Đây là một quan hệ đặc biệt trong xã hội và việc vợ chồng đại diện cho nhau trong giao dịch dân sự luôn được pháp luật ủng hộ và công nhận. 
Vợ, chồng với tư cách là chủ thể của quan hệ đại diện theo ủy quyền đều phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ. Quy định này đảm bảo việc vợ, chồng có thể thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ đại diện và chịu trách nhiệm pháp lý về những hành vi đại diện đó. 
2. Hình thức ủy quyền giữa vợ và chồng
Hình thức ủy quyền giữa vợ và chồng có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định giá trị pháp lý của việc ủy quyền, hiệu lực của giao dịch cũng như trách nhiệm tài sản của vợ, chồng đối với hậu quả pháp lý của giao dịch. 
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 không quy định việc ủy quyền giữa vợ và chồng nhất thiết phải được lập thành văn bản, trừ một số trường hợp như: vợ chồng thỏa thuận đưa tài sản chung vào kinh doanh; định đoạt tài sản chung là bất động sản mà theo quy định pháp luật thì phải đăng kí quyền sở hữu đối với bất động sản đó như: quyền sử dụng đất. 
Về hình thức việc ủy quyền bằng văn bản thì hiện nay có hai hình thức là giấy ủy quyền và hợp đồng ủy quyền. 
- Giấy ủy quyền: là một văn bản xác nhận ý chí của bên ủy quyền và giấy ủy quyền phải được công chứng, chứng thực của cơ quan có thẩm quyền thì mới có giá trị pháp lý. 
- Hợp đồng ủy quyền: được quy định tại Điều 562 Bộ luật Dân sự năm 2015. Ưu diểm nổi bật của hình thức này là cơ sở pháp lý vững chắc, nội dung thỏa thuận của các bên được quy định rõ ràng tại các điều khoản trong hợp đồng. Đây là những cơ sở pháp lý để xem xét trách nhiệm của các bên xác lập hợp đồng ủy quyền. 
3. Phạm vi đại diện trong đại diện theo ủy quyền giữa vợ và chồng
Khoản 1 Điều 141 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định:
Người đại diện chỉ được xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện”.
Đối với đại diện theo ủy quyền thì phạm vi đại diện theo ủy quyền luôn được xác định theo nội dung ủy quyền. Người đại diện theo ủy quyền có nghĩa vụ “thông báo cho bên giao dịch biết về phạm vi đại diện của mình” (Khoản 4, Điều 141 Bộ luật Dân sự năm 2015).
Trường hợp vợ hoặc chồng xác lập giao dịch vượt quá phạm vi ủy quyền thì không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của người vợ hoặc chồng kia đối với phần giao dịch vượt quá, trừ trường hợp người chồng hay người vợ kia đồng ý hoặc biết mà không phản đối. 
Để đảm bảo quyền lợi cho người được đại diện, khoản 3 Điều 141 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:
“Một cá nhân, pháp nhân có thể đại diện cho nhiều cá nhân hoặc pháp nhân khác nhau nhưng không được nhân danh người được đại diện để xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với chính mình hoặc với bên thứ ba mà mình cũng là người đại diện của người đó, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”


Luật Hoàng Anh  

 

Tổng đài tư vấn pháp luật

0908 308 123
Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

0908 308 123

luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Đặc điểm của quan hệ đại diện giữa vợ và chồng

Tư vấn Hôn nhân Gia đình 16/06/2021

Đại diện giữa vợ và chồng là một chế định quan trọng trong luật hôn nhân và gia đình

Đại diện theo pháp luật giữa vợ và chồng là gì

Tư vấn Hôn nhân Gia đình 16/06/2021

Quan hệ đại diện giữa vợ và chồng được pháp luật quy định như thế nào