Điều kiện kết hôn theo luật hôn nhân và gia đình 2014

Đề cao vai trò của gia đình trong đời sống xã hội hiện đại, cũng như việc giữ gìn và phát huy những truyền thống và phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, xóa bỏ những phong tục tập quán lạc hậu về hôn nhân gia đình, chính vì thế vấn đề về hôn nhân và gia đình ngày càng được pháp luật quan tâm và đặc biệt tạo rất nhiều thuận lợi để vấn đề hôn nhân và gia đình có điều kiện củng cố và phát triển hơn nữa. Việc xác định rõ những mối quan hệ liên quan đến cuộc sống gia đình, đặc biệt trước tiên đó là điều kiện về kết hôn nếu được tìm hiểu một cách chu đáo, sẽ tạo điều kiện tốt để hôn nhân và gia đình trở nên bền vững và tránh được những vấn đề không hay xảy ra.

Theo khoản 5 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 về giải thích từ ngữ thì : “Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật này về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn”.  Do đó, không phải cứ có tình yêu hay hai người muốn kết hôn là kết hôn, pháp luật quy định khi có đủ các điều kiện nhất định mới được kết hôn và được nhà nước công nhận là kết hôn hợp pháp.

Về điều kiện kết hôn được quy định tại Điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, cụ thể như sau:

“Điều 8. Điều kiện kết hôn

1. Nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:

a) Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;

b) Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;

c) Không bị mất năng lực hành vi dân sự;

d) Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật này.

2. Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính.”

 1.  Nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:

Thứ nhất: Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên

Theo điểm a khoản 1 Điều 8 thì bắt buộc nam phải từ đủ 20 tuổi và nữ từ đủ 18 tuổi trở lên mới được kết hôn. Do đó, Nam mới bước sang tuổi 20 hay nữ mới bước sang tuổi 18 mà kết hôn là vi phạm điều kiện về tuổi kết hôn.

Thực tế cho thấy việc thi hành quy định về tuổi kết hôn còn rất nhiều bất cập giữa quy định của pháp luật và tập quán về tuổi kết hôn. Ở một số địa phương, cộng đồng người dân vẫn kết hôn theo độ tuổi trong tập quán dẫn tới tình trạng tảo hôn vẫn còn tồn tại, đặc biệt là ở vùng cao, nơi đồng bào dân tộc ít người sinh sống.

Thứ hai: Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định. Kết hôn phải dựa trên sự tự nguyện của hai bên nam nữ. Những trường hợp nam và nữ kết hôn bị coi là không tự nguyện :

  • Một bên bị ép buộc: vì bị đe doạ dùng vũ lực, uy hiếp tinh thần hoặc dùng vật chất mà buộc đồng ý kết hôn.
  • Một bên bị lừa dối: lừa dối nếu kết hôn sẽ được bảo lãnh ra nước ngoài hay sẽ được xin việc làm tốt...; không có khả năng sinh lý nhưng cố tình giấu; biết bị nhiễm HIV nhưng cố tình giấu...nên đồng ý kết hôn.
  • Một bên hoặc cả hai bên nam, nữ bị  người khác cưỡng ép: bố mẹ của người nữ bắt phải cưới để gán nợ; do bố mẹ của hai bên có hứa hẹn với nhau nên cưỡng ép con phải kết hôn...buộc người bị cưỡng ép kết hôn trái với nguyện vọng của họ.

Trên thực tế sự tự nguyện chỉ có thể được xác định thông qua hành vi thể hiện ý chí của người kết hôn trước cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận việc kết hôn. Bản thân yếu tố chủ quan bên trong như tình cảm, mong muốn, nguyện vọng của người kết hôn như thế nào thì lại khó có thể biết. Do đó hiện nay vấn đề về việc xác định như thế nào là tự nguyện hay những hành vi như thế nào là lywaf dối trong hôn nhân vẫn còn gặp nhiều vướng mắc.

Thứ ba: Nam, nữ không bị mất năng lực hành vi dân sự

Theo quy định tại Điều 22 Bộ luật dân sự 2015 đã quy định như sau: “1. Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần.

Khi không còn căn cứ tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự.”

Người mất năng lực hành vi dân sự là người không có khả năng bằng hành vi của mình xác lập thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự. Pháp luật cấm những người mất năng lực hành vi dân sự không được kết hôn bởi lẽ họ không nhận thức, không điều khiển được hành vi, không bày tỏ được ý chí vậy đương nhiên không thoả mãn điều kiện “tự nguyện”. Nhưng hiện nay thực tế vẫn còn tồn tại thực trạng nhiều gia đình không yêu cầu tòa án tuyên bố người thân của mình bị mất năng lực hành vi dân sự nên vẫn có trường hợp người mất năng lực hành vi dân sự được đăng ký kết hôn, gây khó khăn cho sau này giải quyết những việc liên quan khác.

Thứ tư: Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật này.

Theo khoản 2 Điều 5 quy định:

“2. Cấm các hành vi sau đây:

a) Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo;

b) Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn;

c) Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ;

d) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;”

Những trường hợp được coi là người đang có vợ hoặc có chồng, dựa vào từng thời điểm, cụ thể:

  • Người đã kết hôn với người khác theo đúng quy định của pháp luật mà chưa ly hôn (đây là trường hợp lấy nhau có đăng ký kết hôn)
  • Người sống chung với người khác như vợ chồng từ trước ngày 03/01/1987 và đang chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn.
  • Người sống chung với người khác như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 đến trước ngày 01/01/2001 và đang chung sống với nhau như vợ chồng mà có đủ điều kiện kết hôn nhưng không đăng ký kết hôn.

Như vậy, hai bên nam nữa chung sống với nhau sau ngày 01/01/2001 mà không đăng ký kết hôn, không bị coi là người đang có vợ hoặc có chồng.

 2. Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính.

Đây là một vấn đề khá tế nhị và nhạy cảm. Trước đây hầu hết các nước coi đồng tính là một loại bệnh bị phân biệt và kỳ thị. Tuy nhiên, sự tiến bộ của khoa học và nhận thức dân dần có sự thay đổi cách nhìn đối với những người đồng tính. Thay vì trước đây cấm hôn nhân đồng tính thì pháp luật hiện nay quy định “không công nhận”, có sự mềm dẻo hơn, thể hiện sự tôn trọng quyền con người của những người đồng tính hơn.

Như vậy, kết hôn không chỉ có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội mà nó còn mang tính nhân văn sâu sắc. Bởi lẽ, kết hôn là yếu tố cơ bản để xây dựng nên một gia đình, một xã hội đồng thời là cơ sở tiền đề nhằm duy trì phong tục tập quán truyền thống tốt đẹp mà thế hệ đi trước để lại.

Luật Hoàng Anh

CAM KẾT DỊCH VỤ
  • Đồng hành cùng Thân chủ.
  • Phương án tốt, giải pháp hay.
  • Bảo mật - Uy tín - Tin cậy - Chi phí thấp - Hiệu quả cao.
  • Dịch vụ pháp lý tốt số 2 tại Việt Nam.
  • Cam kết HOÀN TIỀN nếu thực hiện dịch vụ không thành công.

Cảm ơn quý vị và các bạn đã tin tưởng Luật Hoàng Anh, nếu có thắc mắc muốn giải đáp hãy liên hệ ngay cho chúng tôi.

Tổng đài tư vấn pháp luật

Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Dịch vụ Luật Sư uy tín hàng đầu tại Hà Nội.

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

Email: luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan