Giải quyết tranh chấp liên quan đến việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, mang thai hộ vì mục đích nhân đạo như thế nào?

Hiện nay, nhờ vào sự phát triển vượt bậc của khoa học công nghệ trong y học, các cặp vợ chồng không có khả năng sinh con có thể có cơ hội làm cha, mẹ thông qua sự giúp đỡ của kỹ thuật hỗ trợ sinh sản hay mang thai hộ vì mục đích nhân đạo. Việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản và mang thai hộ đều được thực hiên thông qua một giao dịch dân sự, do đó, không thể tránh khỏi những tranh chấp về quyền lợi và nghĩa vụ xảy ra trong quan hệ đặc biệt này. Theo đó, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về việc giải quyết tranh chấp liên quan đến việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, mang thai hộ vì mục đích nhân đạo như sau:

“Điều 99. Giải quyết tranh chấp liên quan đến việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, mang thai hộ vì mục đích nhân đạo

1. Tòa án là cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, mang thai hộ.

2. Trong trường hợp chưa giao đứa trẻ mà cả hai vợ chồng bên nhờ mang thai hộ chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì bên mang thai hộ có quyền nhận nuôi đứa trẻ; nếu bên mang thai hộ không nhận nuôi đứa trẻ thì việc giám hộ và cấp dưỡng đối với đứa trẻ được thực hiện theo quy định của Luật này và Bộ luật dân sự.”

1. Một số khái niệm chung

Sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là việc sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh nhân tạo hoặc thụ tinh trong ống nghiệm (khoản 21 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014).

Thụ tinh nhân tạo dước góc độ y học được hiểu là bơm tinh trùng của người chồng vào buồng tử cung của người vợ, cho tinh trùng bơi vào ống dẫn trứng và thụ tinh với trứng của người vợ từ đó dẫn đến thụ thai như bình thường.

Thụ tinh trong ống nghiệm là sự kết hợp giữa noãn và tinh trùng trong ống nghiệm để tạo thành phôi (khoản 1 Điều 2 Văn bản hợp nhất số 02/VBHN-BYT ngày 30/01/2019 hợp nhất Nghị định quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo).

Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là việc một người phụ nữ tự nguyện, không vì mục đích thương mại giúp mang thai cho cặp vợ chồng mà người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, bằng việc lấy noãn của người vợ và tinh trùng của người chồng để thụ tinh trong ống nghiệm, sau đó cấy vào tử cung của người phụ nữ tự nguyện mang thai để người này mang thai và sinh con (Khoản 22 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014).

2. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp liên quan đến việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, mang thai hộ vì mục đích nhân đạo

Theo Điều 99 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì Tòa án là cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, mang thai hộ.

Ngoài ra, Bộ luật tố tụng dân sự 2015 cũng quy định tại Điều 28 những tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, trong đó có tranh chấp về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.

Về thẩm quyền riêng, theo điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, các tranh chấp về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, mang thai hộ vì mục đích nhân đạo sẽ do Tòa án nhân dân cấp huyện giải quyết. Đối với các tranh chấp có yếu tố nước ngoài thì Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết theo quy định điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Ví dụ: Bên mang thai hộ và bên nhờ mang thai hộ thỏa thuận về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, trong đó, bên nhờ mang thai hộ có nghĩa vụ chi trả các chi phí thực tế để bảo đảm việc chăm sóc sức khỏe cho người mang thai hộ và đứa con được sinh ra. Nhưng bên nhờ mang thai hộ không thực hiện nghĩa vụ chi trả, vì vậy, bên mang thai hộ có thể yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về nghĩa vụ của bên nhờ mang thai hộ.

Bên cạnh đó, pháp luật còn quy định tại khoản 2 Điều 99 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 về tình huống xác định việc giao đứa trẻ cho chủ thể nào nuôi trong trường hợp chưa giao đứa trẻ mà bên nhờ mang thai hộ chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự hoặc trong trường hợp người mang thai hộ cũng không nhận nuôi.

+ Trường hợp nếu đứa trẻ chưa được giao mà cả hai vợ chồng bên nhờ mang thai hộ đều chết hoặc mất hành vi năng lực dân sự thì bên mang thai hộ có quyền nhận nuôi đứa trẻ.

+ Trường hợp bên mang thai hộ cũng không nhận nuôi đứa trẻ thì việc giám hộ và cấp dưỡng đối với đứa trẻ được thực hiện theo quy định tại Chương VII Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 về cấp dưỡng và Mục 4 Chương III Bộ luật dân sự năm 2015 về giám hộ.

Luật Hoàng Anh

 

 

 

 

Tổng đài tư vấn pháp luật

0908 308 123
Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

0908 308 123

luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan