Hệ quả pháp lý của việc tuyên bố vợ, chồng là cá nhân đã chết

Khi quyết định tuyên bố chết đối với cá nhân của Tòa án có hiệu lực thì cá nhân đó xem như là đã chết. Lúc này, kéo theo việc “chết về mặt pháp lý” của cá nhân là hàng loạt vấn đề khác, liên quan đến tư cách chủ thể đối với cá nhân đó và những vấn đề về quan hệ nhân thân, quan hệ tài sản của người đó với vợ, chồng. Pháp luật quy định như thế nào về hệ quả pháp lý của việc tuyên bố vợ, chồng là cá nhân đã chết? Trong phạm vi bài viết phần I này, Luật Hoàng Anh sẽ phân tích hệ quả pháp lý về quan hệ nhân thân của vợ, chồng bị Tòa án tuyên bố là cá nhân đã chết. 

1. Thời điểm chấm dứt quan hệ hôn nhân

Khoản 1 Điều 71 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về việc tuyên bố chết như sau:
“1. Người có quyền, lợi ích liên quan có thể yêu cầu Tòa án ra quyết định tuyên bố một người là đã chết trong trường hợp sau đây:
a) Sau 03 năm, kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của Tòa án có hiệu lực pháp luật mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống;
b) Biệt tích trong chiến tranh sau 05 năm, kể từ ngày chiến tranh kết thúc mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống;
c) Bị tai nạn hoặc thảm họa, thiên tai mà sau 02 năm, kể từ ngày tai nạn hoặc thảm hoạ, thiên tai đó chấm dứt vẫn không có tin tức xác thực là còn sống, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;
d) Biệt tích 05 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống; thời hạn này được tính theo quy định tại khoản 1 Điều 68 của Bộ luật này”. 

Điều 65 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về thời điểm chấm dứt hôn nhân:
“Hôn nhân chấm dứt kể từ thời điểm vợ hoặc chồng chết.
Trong trường hợp Tòa án tuyên bố vợ hoặc chồng là đã chết thì thời điểm hôn nhân chấm dứt được xác định theo ngày chết được ghi trong bản án, quyết định của Tòa án”. 

Đây là quy định xác định thời điểm chấm dứt quan hệ hôn nhân trong trường hợp một bên vợ hoặc chồng chết. Có hai trường hợp xác định một người đã chết là:
- Chết thực tế và có giấy chứng tử hoặc các giấy tờ tương tự như người chồng chết trước năm 1975 không có giấy chứng tử nhưng có xác nhận của chính quyền dịa phương về việc người đó chết. 
- Chết trong trường hợp Tòa án tuyên bố là đã chết bằng bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật. Trường hợp này xác định chết nhưng không nhìn thấy trên thực tế. 
Việc quy định về thời điểm chết của người vợ, chồng là nhằm tạo cơ sở pháp lý cho việc giải quyết quan hệ hôn nhân và gia đình và các quan hệ nhân thân khác của người chết. 

2. Hậu quả pháp lý về quan hệ nhân thân của quan hệ hôn nhân gia đình trong trường hợp vợ, chồng bị Tòa án tuyên bố là cá nhân đã chết

Điều 72 Bộ luật Dân sự quy định như sau:
“1. Khi quyết định của Tòa án tuyên bố một người là đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của người đó được giải quyết như đối với người đã chết.
2. Quan hệ tài sản của người bị Tòa án tuyên bố là đã chết được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của người đó được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế”.

Quan hệ hôn nhân, gia đình và các quan hệ khác về nhân thân của người đó được giải quyết như đối với người đã chết. Trong trường hợp này, thời điểm chấm dứt hôn nhân được xác định theo ngày chết được ghi trong bản án, quyết định của Tòa án. Người vợ hoặc chồng bị Tòa án tuyên bố chết sẽ trở thành người độc thân, người đang không có quan hệ hôn nhân và có quyền tự do tìm hiểu, yêu thương và kết hôn với một người khác.
Về quan hệ với con cái, Khoản 1 Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:
“1. Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng.
Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân.
Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng”.

Theo quy định này, trong thời hạn 300 ngày kể từ ngày chết được Tòa án xác định trong quyết định tuyên bố chết, vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố chết mà sinh con ra thì đứa con này vẫn được xác định là con do người vợ có thai trong thời kì hôn nhân và được xem là con chung của vợ, chồng. Bên cạnh đó, pháp luật cũng quy định cho người khác nhận người bị Tòa án tuyên bố chết là cha, mẹ, con theo quy định tại Điều 90, 91 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Luật Hoàng Anh

Tổng đài tư vấn pháp luật

0908 308 123
Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

0908 308 123

luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan