Không đăng ký kết hôn thì có phải ly hôn không?

Theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014  “Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý”.

Thực trạng nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng, nhưng không đăng ký kết hôn, mà một trong các bên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, Tòa án thụ lý vụ án còn có quan điểm khác nhau trong việc xác định quan hệ pháp luật từ đầu giải quyết.

Theo nội dung mà Luật Hôn nhân và gia đình quy định thì nam, nữ chung sống với nhau mà không đăng ký kết hôn, mà một trong các bên có yêu cầu ly hôn, được Tòa án thụ lý đơn yêu cầu “ly hôn” để giải quyết chứ không phải “không công nhận quan hệ vợ chồng”. Theo quy định tại Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định về thẩm quyền giải quyết các vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình,  Điều 29 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định về thẩm quyền giải quyết việc dân sự yêu cầu về hôn nhân và gia đình. Cả hai điều luật này, không có quy định cụ thể nào về thẩm quyền của Tòa án đối với yêu cầu “không công nhận quan hệ vợ chồng”.

1. Trường hợp nào không được công nhận quan hệ vợ chồng?

- Không công nhận quan hệ vợ chồng là chế độ pháp lý áp dụng đối với những trường hợp nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn. Việc chung sống như vợ chồng của nam, nữ có thể có con chung và tài sản chung. Tuy không trái pháp luật, nhưng việc nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn, không được nhà nước khuyến khích. Trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng nhưng sau đó thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật thì quan hệ hôn nhân được xác lập từ thời điểm đăng ký kết hôn.

- Không công nhận quan hệ vợ chồng còn áp dụng đối với trường hợp nam, nữ có đăng ký kết hôn nhưng việc đăng ký kết hôn tại cơ quan không có thẩm quyền và khi một hoặc cả hai bên nam, nữ yêu cầu Toà án giải quyết thì Toà án ra quyết định tuyên bố không công nhận quan hệ hôn nhân giữa nam và nữ, đồng thời huỷ Giấy chứng nhận kết hôn và thông báo cho cơ quan hộ tịch đã đăng ký kết hôn để xử lý theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

Điều 53. Thụ lý đơn yêu cầu ly hôn

1. Tòa án thụ lý đơn yêu cầu ly hôn theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

2. Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật này; nếu có yêu cầu về con và tài sản thì giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này.

Tại Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có quy định:

"Điều 14. Giải quyết hậu quả việc nam, nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn:

1. Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này.

2. Trong trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều này nhưng sau đó thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật thì quan hệ hôn nhân được xác lập từ thời điểm đăng ký kết hôn."

Đây là những trường hợp không thuộc diện kết hôn trái pháp luật hoặc kết hôn hợp pháp.

Để minh họa cho việc giải quyết ly hôn cho nam nữ sống chung như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn, Luật Hoàng Anh xin lấy ví dụ về bản án sau đây [1]:

Đầu tháng 9 năm 2018, Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Y mở phiên tòa xét xử vụ án dân sự “Tranh chấp hôn nhân” giữa nguyên đơn: bà Trần Thị M, sinh năm 1974 và bị đơn: ông Phạm Văn T, sinh năm 1969.  Năm 1990, bà M và ông T được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán tại địa phương và chung sống với nhau tại thôn K, phường L, thành phố H, tỉnh Y nhưng không đăng ký kết hôn. Cuộc sống vợ chồng của ông bà hạnh phúc đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn. Cả hai đều xác định tình cảm vợ chồng không còn nữa và cùng làm đơn ra tòa án đề nghị giải quyết.

Xét thấy, mặc dù ông T, bà M có đủ điều kiện kết hôn, có được nghe việc phổ biến pháp luật và tuyên truyền pháp luật trên các phương tiện thông tin đại chúng nhưng vẫn không thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định. Căn cứ điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/QH ngày 09/6/2000 của Quốc hội hướng dẫn thi hành Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 có quy định: “Nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 đến ngày 01/01/2001 mà có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này thì có nghĩa vụ đăng ký kết hôn trong thời hạn 02 năm kể từ ngày luật này có hiệu lực cho đến ngày 01/01/2003;...

Từ sau ngày 01/01/2003 mà họ không đăng ký kết hôn thì pháp luật không công nhận họ là vợ chồng”. Bởi vậy, Tòa án quyết định không công nhận quan hệ giữa bà M và ông T là vợ chồng.

           Do ông T và bà M không phải là vợ chồng nên việc giải quyết tranh chấp về tài sản được giải quyết theo quy định của Bộ luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Cụ thể trong vụ án này, ông T và bà M không đề nghị tòa án giải quyết về con chung, nhưng có đề nghị phân chia tài sản. Tài sản phân chia trong trường hợp này được xác định không phải là tài sản chung hợp nhất (như tài sản được hình thành trong hôn nhân) mà giải quyết tương tự như trường hợp hủy hôn nhân trái pháp luật. Tại khoản 3 Điều 17 Luật HN & GĐ quy định về hậu quả pháp lý của việc hủy kết hôn trái pháp luật như sau: “…3. Tài sản được giải quyết theo nguyên tắc tài sản riêng của ai thì vẫn thuộc quyền sở hữu của người đó; tài sản chung được chia theo thỏa thuận của các bên; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết, có tính đến công sức đóng góp của mỗi bên; ưu tiên bảo vệ quyền lợi chính đáng của phụ nữ và con”.

Hiện tại, bà M và ông T sống trên mảnh đất diện tích 191,1 m2 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên hộ ông Phạm Văn T vào năm 2013. Nguồn gốc đất là do bố mẹ ông T cho bằng miệng. Tòa án không chấp nhận yêu cầu của bà M về việc chia đôi đất với lý do đây là tài sản riêng của ông T được bố mẹ cho riêng. Đối với tài sản trên đất gồm: Một ngôi nhà 1,5 tầng và công trình phụ là tài sản nằm trên diện tích đất 191,1 m2 trị giá là 150.144.500 đồng (xây dựng vào năm 2003 bằng tiền tiết kiệm, tiền đền bù khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của bà M, ông T và tiền bố mẹ ông T cho là 20.000.000 đồng), Tòa án xác định đây là tài sản chung nên chấp nhận chia đôi cho ông T và bà M mỗi người được một nửa giá trị. Giao cho ông T quản lý, sử dụng toàn bộ khối tài sản trên nhưng phải có nghĩa vụ trả cho bà M giá trị ½ tài sản chung bằng tiền là 75.072.250 đồng và tiền ách trích công sức là 60.000.000 đồng, cộng bằng 135.072.250 đồng.

Trong đời sống hiện nay vấn đề nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng không đăng ký kết hôn vẫn đang diễn ra theo nhiều cách khác nhau. Khi xảy ra mâu thuẫn, khởi kiện ra tòa án thì mới nhận ra quyền lợi của của mình không được bảo đảm như trong quan hệ vợ chồng. Bởi vậy, các bên nam nữ nên thực hiện đúng quy định của pháp luật, có như vậy mới bảo vệ quyền lợi cho bản thân mình, mà còn giúp cho xã hội ổn định và tốt đẹp hơn.

 

[1]  Nguyễn Thị Minh Ngọc - VKSND T.P Hưng Yên, “Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng”

 

Luật Hoàng Anh

CAM KẾT DỊCH VỤ
  • Đồng hành cùng Thân chủ.
  • Phương án tốt, giải pháp hay.
  • Bảo mật - Uy tín - Tin cậy - Chi phí thấp - Hiệu quả cao.
  • Dịch vụ pháp lý tốt số 2 tại Việt Nam.
  • Cam kết HOÀN TIỀN nếu thực hiện dịch vụ không thành công.

Cảm ơn quý vị và các bạn đã tin tưởng Luật Hoàng Anh, nếu có thắc mắc muốn giải đáp hãy liên hệ ngay cho chúng tôi.

Tổng đài tư vấn pháp luật

Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Dịch vụ Luật Sư uy tín hàng đầu tại Hà Nội.

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

Email: luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Giải quyết hôn nhân chấm dứt do vợ, chồng chết hoặc bị tòa án tuyên bố là đã chết như thế nào?

Tư vấn Hôn nhân Gia đình 13/07/2021

Pháp luật hiện nay đã quy định cụ thể về trường hợp này tại Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 từ Điều 65 đến Điều 67

Thế nào là tài sản riêng của vợ chồng?

Tư vấn Hôn nhân Gia đình 13/07/2021

Nhiều trường hợp vợ hoặc chồng lầm tưởng tài sản riêng của đối phương thuộc về tài sản chung của vợ chồng. Vậy vấn đề này được xác định theo tiêu chí nào theo quy định của pháp luật?

Các yếu tố trong nghĩa vụ cấp dưỡng

Tư vấn Hôn nhân Gia đình 13/07/2021

Ai laf chủ thể phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng? Nguyên tắc xác định mức cấp dưỡng, phương thức cấp dưỡng