Nguyên tắc hòa giải tại Tòa án khi ly hôn được quy định như thế nào?

Hòa giải tại Tòa án khi ly hôn là một bước vô cùng quan trọng trong quá trình ly hôn của vợ chồng. Quá trình hòa giải thành công có thể giúp gia đình hàn gắn, cùng nhau tiếp tục đời sống chung. Để quá trình này được thực hiện một cách đúng đắn, ý nghĩa, pháp luật đã đặt ra các nguyên tắc hòa giải khi ly hôn tại Tòa án. Theo dõi bài viết dưới đây của Luật Hoàng Anh để biết thêm về các nguyên tắc hòa giải tại Tòa án khi ly hôn. 
Để đảm bảo việc hòa giải khi ly hôn đạt được kết quả thì việc tiến hành hòa giải cần phải tuân theo những nguyên tắc nhất định. Các nguyên tắc hòa giải tại Tòa án khi ly hôn được quy định tại Khoản 2 Điều 205 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 như sau:
"2. Việc hòa giải được tiến hành theo các nguyên tắc sau đây:
a) Tôn trọng sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự, không được dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực, bắt buộc các đương sự phải thỏa thuận không phù hợp với ý chí của mình;
b) Nội dung thỏa thuận giữa các đương sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội".


I. Nguyên tắc tôn trọng sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự, không được dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực, không gây áp lực bắt buộc các đương sự phải thỏa thuận không phù hợp với ý chí của mình


Mục đích của hòa giải trong các vụ án ly hôn là để các đương sự tự nguyện thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án trên tinh thần đoàn kết, thông cảm, yêu thương và giúp đỡ lẫn nhau. Vì vậy mọi sự tự nguyện thỏa thuận của vợ chồng đều phải được tôn trọng, bảo vệ thì mục đích của hòa giải mới đạt được. 
Khi tiến hành hòa giải, Thẩm phán chủ trì buổi hòa giải phải tuyệt đối tôn trọng, bảo vệ các ý kiến thể hiện sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự, không áp đặt quan điểm, phản bác ý kiến tự nguyện  thỏa thuận của các đương sự mà chỉ để xuất gợi mở hướng giải quyết tối ưu nhất cho các đương sự để họ tự quyết định và định đoạt. 
Mặt khác cần đảm bảo rằng không ai được dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực bắt buộc các đương sự phải thỏa thuận không phù hợp với ý chí của mình. Điều này có nghĩa là nếu hai bên vợ chồng thỏa thuận mà có sự đe dọa, cưỡng ép là vi phạm nguyên tắc về quyền quyết định và tự định đoạt của các đương sự. Một khi sự tự nguyện không có thì mục đích của hòa giải không còn. 
Ví dụ: Mẹ chồng ép buộc hai vợ chồng hòa giải, quay lại với nhau để không bị mang điều tiếng hay hàng xóm dèm pha. Nếu hai người quyết định ly hôn, mẹ chồng sẽ tự vẫn. 


II. Nguyên tắc nội dung thỏa thuận giữa các đương sự không được trái pháp luật hoặc đạo đức xã hội


Trái pháp luật được hiểu là nội dung thỏa thuận đã ngược lại hoặc không phù hợp với quy định của pháp luật điều chỉnh quan hệ pháp luật mà các bên đang tham gia giải quyết. 
Ví dụ: hai vợ chồng thỏa thuận ly hôn để một người sang nước ngoài lao động theo hình thức kết hôn giả với người nước ngoài. Thỏa thuận này đã vi phạm điều cấm của Luật Hôn nhân gia đình tại Điểm a, Khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. 
Trái đạo đức xã hội được hiểu là trái với những chuẩn mực ứng xử chung giữa người với người trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng. 
Theo quy định của nguyên tắc này, mọi thỏa thuận trái pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội đều không có giá trị pháp lý và không được pháp luật bảo vệ. Nếu khi hòa giải các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án nhưng nội dung của thỏa thuận đó trái pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội thì được giải quyết như thế nào? 
Vấn đề này đến nay chưa có hướng dẫn cụ thể giải quyết. Tuy nhiên khi hòa giải mà gặp trường hợp trên thì khi kết thúc phiên hòa giải Thẩm phán chủ tọa phiên tòa cần thông báo cho các đương sự biết rõ là thỏa thuận của họ đã trái với quy định nào của luật hoặc trái với đạo đức xã hội nào. Nếu các đương sự không thay đổi ý kiến thì Thẩm phán cần ghi rõ là thỏa thuận này trái với quy định của pháp luật hoặc trái với đạo đức xã hội vào cuối biên bản hòa giải. Trường hợp này thì Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải không lập biên bản hòa giải thành và vụ án được tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung. 
Trường hợp tại phiên tòa các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án nhưng nội dung thỏa thuận lại trái pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội thì hội đồng xét xử không công nhận sự thỏa thuận đó và vẫn tiến hành việc xét xử vụ án theo thủ tục chung nhưng cần ghi rõ trong bản án về lý do của việc không công nhận đó.


Luật Hoàng Anh 

Tổng đài tư vấn pháp luật

0908 308 123
Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

0908 308 123

luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Hòa giải tại Tòa án khi ly hôn là gì? Trường hợp ly hôn nào không thể tiến hành hòa giải?

Tư vấn Hôn nhân Gia đình 17/06/2021

Hòa giải tại Tòa án khi ly hôn là một thủ tục bắt buộc khi ly hôn, tuy nhiên trong một số trường hợp không thể tiến hành hòa giải

Khi ly hôn có bắt buộc phải hòa giải ở cơ sở không?

Tư vấn Hôn nhân Gia đình 17/06/2021

Ly hôn bắt buộc phải hòa giải tại Tòa án thì có phải hòa giải ở cơ sở không

Ly hôn là gì? Chế định ly hôn được quy định như thế nào?

Tư vấn Hôn nhân Gia đình 17/06/2021

Chế định ly hôn là tổng thế các nhóm quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành để điều chỉnh trường hợp quan hệ vợ chồng chấm dứt