Quan hệ pháp luật hôn nhân gia đình gồm những yếu tố nào?

Quan hệ pháp luật hôn nhân gia đình là những quan hệ xã hội chịu sự điều chỉnh của các quy phạm Luật hôn nhân và gia đình. Như vậy có thể thấy quan hệ pháp luật hôn nhân gia đình là một ngành luật độc lập, có những nét đặc thù riêng so với các ngành luật khác. Vậy những yếu tố nào cấu thành nên quan hệ pháp luật hôn nhân gia đình sẽ được giải đáp bởi Luật Hoàng Anh trong bài viết dưới đây.


1. Chủ thể của quan hệ pháp luật hôn nhân gia đình


Vấn đề chủ thể của quan hệ pháp luật hôn nhân gia đình có ý nghĩa trong khoa học pháp lý. Trong mọi quan hệ pháp luật, yếu tố chủ thể là điều quan trọng nhất cấu thành quan hệ đó. Bởi chủ thể quyết định trạng thái, thời gian bắt đầu, kết thúc của quan hệ pháp luật đó. Khái niệm chủ thể của quan hệ pháp luật hôn nhân gia đình được hiểu là những cá nhân tham gia vào quan hệ pháp luật hôn nhân gia đình được nhà nước thừa nhận có quyền và nghĩa vụ pháp lý trong mối quan hệ pháp luật đó. 
Đặc thù cơ bản của chủ thể quan hệ pháp luật hôn nhân gia đình ở chỗ chủ thể là cá nhân. Cá nhân muốn trở thành chủ thể của quan hệ hôn nhân thì phải đảm bảo hai điều kiện là năng lực hành vi và năng lực pháp luật hôn nhân gia đình. 
- Năng lực pháp luật hôn nhân gia đình là khả năng cá nhân có quyền và nghĩa vụ trong gia đình. Trong một số trường hợp, năng lực pháp luật hôn nhân gia đình đã có từ khi cá nhân đó được sinh ra. Ví dụ sinh ra được bố mẹ nuôi dưỡng, chăm sóc, dạy dỗ. Trong nhiều trường hợp khác, năng lực pháp luật hôn nhân gia đình tự động phát sinh khi cá nhân đến độ tuổi nhất định. Ví dụ nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên là đủ độ tuổi để kết hôn (Điểm a, khoản 1, điều 8 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014). Quyền và nghĩa vụ hôn nhân gia đình của chủ thể đó có thành hiện thực hay không còn phụ thuộc vào hành vi của chính chủ thể đó hoặc chủ thể đối lập. Do đó chỉ có những quyền và nghĩa vụ phát sinh khi chủ thể thực hiện bằng chính hành vi của mình. Ví dụ như quyền được kết hôn, quyền được ly hôn. Trong một số trường hợp quyền và nghĩa vụ của chủ thể bị hạn chế vì lợi ích của mỗi công dân và toàn xã hội. Ví dụ như cấm kết hôn giả, ly hôn giả. 
- Năng lực hành vi hôn nhân và gia đình là khả năng chủ thể thực hiện các quyền và nghĩa vụ hôn nhân gia đình bằng chính hành vi của mình. Năng lực hành vi phụ thuộc vào độ tuổi và khả năng nhận thức của chủ thể. Tuy nhiên nhằm đảm bảo quyền lợi của các bên, pháp luật hôn nhân gia đình có thể quy định độ tuổi có năng lực hành vi của công dân sớm hơn hoặc muộn hơn. Ví dụ: khi con đủ 9 tuổi trở lên, bố mẹ muốn đổi tên cho con phải nhận được sự đồng ý của con. Những người không có năng lực hành vi do bị tâm thần thì không có khả năng tạo cho bản thân quyền và nghĩa vụ trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình bằng chính hành vi của mình (không thể kết hôn hay nhận con nuôi). Trong trường hợp này quyền và nghĩa vụ nhân thân cũng như tài sản sẽ so người giám hộ thực hiện cho trừ một số trường hợp luật có quy định khác. 


2. Nội dung quan hệ hôn nhân gia đình


Nội dung quan hệ hôn nhân gia đình là các quyền và nghĩa vụ chủ thể quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình. Các quyền và nghĩa vụ hôn nhân gia đình là quyền nhân thân và quyền tài sản. Trong đó, quyền và nghĩa vụ về nhân thân là nội dung chính của quan hệ hôn nhân gia đình. Còn quyền và nghĩa vụ về tài sản gắn liền với quyền và nghĩa vụ về nhân thân trong một số trường hợp nhất định. Ví dụ: Bố mẹ có nghĩa vụ chăm sóc, dạy dỗ con cái, khi con đủ 18 tuổi sẽ chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng của bố mẹ. Từ đó có thể hiểu rằng quyền và nghĩa vụ trong hôn nhân và gia đình là quyền và nghĩa vụ không thể chuyển nhượng được. Ví dụ vợ chồng ly hôn thì người vợ không thể chuyển quyền cấp dưỡng của con (chồng cũ cấp dưỡng) sang cho mình được. Trong khi đó quyền và nghĩa vụ trong luật dân sự có thể chuyển giao cho người khác trong một số trườn hợp đặc biệt. Ví dụ: Một người sáng tác tác phẩm văn học, nghệ thuật nhưng chưa công bố tác phẩm có thể cho phép người khác có quyền công bố.  


3. Khách thể của quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình 


Nếu như khách thể của quan hệ pháp luật dân sự là đối tượng của thế giới vật chất cũng như giá trị tinh thần hay khách thể của pháp luật hình sự là những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ thì khách thể của quan hệ pháp luật hôn nhân gia đình có thể là lợi ích nhân thân, các hành vi và vật. Cu thể:
- Lợi ích nhân thân: họ tên, việc làm, ngành nghề
- Các hành vi: hành vi chăm sóc đối với con cái như dạy học, cho con ăn, mua quần áo cho con; hành vi quản lý tài sản chung của vợ chồng như: đầu tư, cho thuê nhà...
- Vật: là đồ vật trong khối tài sản chung của hai vợ chồng: xe máy, điều hòa, tủ lạnh, tivi.
Một điểm cần lưu ý là con  cái không phải là khách thể của quan hệ hôn nhân gia đình. Ví dụ: tranh chấp về con cái khi ly hôn nhìn qua có thể tưởng rằng con cái là khách thể của quan hệ hôn nhân và gia đình nhưng thực tế, con cái chính là một trong các chủ thể của quan hệ này. 


Luật Hoàng Anh 

 
 

Tổng đài tư vấn pháp luật

0908 308 123
Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

0908 308 123

luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Khái niệm kết hôn theo quy định của luật hôn nhân gia đình 2014? Các điều kiện kết hôn?

Tư vấn Hôn nhân Gia đình 28/04/2021

Hôn nhân là cơ sở hình thành nên gia đình - tế bào của xã hội. Gia đình ra đời, tồn tại và phát triển trước hết là do Nhà nước thừa nhận hôn nhân của đôi nam nữ, đồng thời quy định quyền và nghĩa vụ pháp lý phát sinh giữa họ khi xác lập quan hệ vợ chồng.