Quyền yêu cầu ly hôn được quy định như thế nào trong Luật Hôn nhân và gia đình?

Nếu kết hôn là sự kiện pháp lý gắn kết hai cá nhân với nhau để cùng chung sống, yêu thương và xây dựng một gia đình hạnh phúc thì ly hôn chính là sự kiện pháp lý ngược lại. Khi đời sống hôn nhân không còn trọn vẹn ý nghĩa như ban đầu, cả hai người không còn hòa hợp, không thể tiếp tục vì nhau nữa thì ly hôn lúc này chính là sự lựa chọn tốt nhất cho cả hai.  Vậy quyền yêu cầu ly hôn được quy định như thế nào trong Luật Hôn nhân và gia đình sẽ được Luật Hoàng Anh trình bày trong bài viết sau:
Quyền yêu cầu ly hôn là một trong những quyền dân sự cơ bản của công dân được quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Điều 39 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:
“Cá nhân có quyền kết hôn, ly hôn”.
Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cụ thể hóa quy định về Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn:
"1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.
2. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.
3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi".


I. Quyền yêu cầu ly hôn là gì?


Trong quan hệ pháp luật hôn nhân gia đình, nếu việc kết hôn làm phát sinh quan hệ này thì ly hôn chính là sự kiện làm chấm dứt quan hệ đó. Về bản chất, quyền yêu cầu ly hôn là một trong những quyền dân sự cơ bản và là quyền nhân thân của cá nhận được thực hiện trên cơ sở các nguyên tắc thực hiện quyền dân sự. Hiểu một cách đơn giản, quyền yêu cầu ly hôn là một trong những quyền nhân thân cơ bản của cá nhân được pháp luật quy định và được đảm bảo thực hiện khi quan hệ hôn nhân không thể tiếp tục được nữa trên cơ sở yêu cầu giải quyết ly hôn của một bên vợ, chồng hoặc cả hai vợ chồng hoặc cha, mẹ, người thân thích khác. 


II. Quyền yêu cầu ly hôn được pháp luật quy định như thế nào?


Tình trạng ly hôn xuất phát từ việc tình cảm vợ chồng không còn do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, hai người cảm thấy không còn tự nguyện chung sống, gắn bó, yêu thương và có nhu cầu chấm dứt cuộc hôn nhân này. 
Nếu như việc kết hôn đòi hỏi phải tuân theo những quy định của pháp luật mới có giá trị thì việc ly hôn cũng tương tự như vậy. Khi ly hôn phải có bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án mới làm chấm dứt quan hệ vợ chồng về mặt pháp lý. 
Trên thực tế, tình trạng ly thân diễn ra vô cùng phổ biến, dù quan hệ vợ chồng không còn, hai bên nam, nữ tách nhau ra, không ràng buộc với nhau về bất cứ điều gì thì về mặt pháp lý hai người vẫn là vợ chồng hợp pháp. Cả hai vẫn có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ với nhau như tôn trọng, bình đẳng trong quan hệ hôn nhân; cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và hành vi sống chung như vợ chồng với người khác là vi phạm chế độ một vợ một chồng, vi phạm các nguyên tắc cơ bản của Luật hôn nhân và gia đình.
Xuất phát từ việc tôn trọng nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, Luật đã ghi nhận quyền ly hôn của đôi nam, nữ đã kết hôn. Cụ thể là vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Điều này có nghĩa là việc ly hôn có thể do một bên đơn phương yêu cầu ly hôn và cũng có thể cả hai bên cùng thống nhất việc ly hôn. 
Vợ chồng bình đẳng với nhau về quyền yêu cầu ly hôn. Trong suốt thời kỳ hôn nhân, vợ chồng đều có quyền ly hôn như sau, không ai được cưỡng ép, lừa dối, cản trở vợ, chồng trong việc thực hiện quyền yêu cầu ly hôn. 
Khoản 2 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình quy định trường hợp ngoại lệ cho phép cha mj, người thân thích khác có quyền yêu cầu ly hôn. Cha mẹ, người thân thích khác của vợ chồng chỉ có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp đặc biệt là khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình. Quy định này giúp giải quyết được yêu cầu thực tế về việc bảo vệ quyền, lợi ích của bên vợ, chồng bị bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không thể làm chủ được nhận thức, hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do vợ, chồng gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ 
Khoản 3 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình quy định về hạn chế của quyền yêu cầu ly hôn. Khi thực hiện quyền yêu cầu ly hôn, người chồng bị hạn chế trong trường hợp người vợ đang có thai, sinh con hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Người chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp này xuất phát từ nguyên tắc bảo vệ phụ nữ và trẻ em, là nhóm đối tượng dược pháp luật và xã hội quan tâm, bảo vệ.


Luật Hoàng Anh 

 

Tổng đài tư vấn pháp luật

0908 308 123
Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

0908 308 123

luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Khi ly hôn có bắt buộc phải hòa giải ở cơ sở không?

Tư vấn Hôn nhân Gia đình 17/06/2021

Ly hôn bắt buộc phải hòa giải tại Tòa án thì có phải hòa giải ở cơ sở không

Ly hôn là gì? Chế định ly hôn được quy định như thế nào?

Tư vấn Hôn nhân Gia đình 17/06/2021

Chế định ly hôn là tổng thế các nhóm quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành để điều chỉnh trường hợp quan hệ vợ chồng chấm dứt

Nguyên tắc hòa giải tại Tòa án khi ly hôn được quy định như thế nào?

Tư vấn Hôn nhân Gia đình 17/06/2021

Hòa giải tại Tòa án khi ly hôn cần tuân theo những nguyên tắc nhất định để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên