Sống chung như vợ chồng mà không đăng kí kết hôn có trái pháp luật không? Giải quyết tài sản như thế nào khi chia tay?

Ngày nay việc nam nữ sống chung như vợ chồng mà không đăng kí kết hôn là một hiện tượng khá phổ biến và có xu hướng gia tăng trong xã hội hiện đại. Điều này không chỉ trái với thuần phong mĩ tục của dân tộc mà còn gây ra một số bất cập khi nam, nữ quyết định chia tay. Vậy việc sống chung như vợ chồng mà không đăng kí kết hôn có vi phạm pháp luật không? Tài sản trong trường hợp này được giải quyết như thế nào khi chia tay? 


I. Khái niệm cơ bản


Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:
“Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật này về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn”.
“Chung sống như vợ chồng là việc nam, nữ tổ chức cuộc sống chung và coi nhau là vợ chồng”. 


II. Sống chung như vợ chồng mà không đăng kí kết hôn có vi phạm pháp luật không?


Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về việc đăng kí kết hôn:
"1. Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch.
Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý."

Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về việc giải quyết hậu quả nam nữ sống chung như vợ chồng mà không đăng kí kết hôn:
“1. Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này.
2. Trong trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều này nhưng sau đó thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật thì quan hệ hôn nhân được xác lập từ thời điểm đăng ký kết hôn”. 

Như vậy, việc nam nữ đáp ứng đủ điều kiện kết hôn, không thuộc các trường hợp cấm kết hôn mà sống chung như vợ chồng và không đăng kí kết hôn thì không vi phạm pháp luật. Tuy nhiên cả hai sẽ không được pháp luật công nhận là vợ chồng hợp pháp, không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng. 

 

III. Tài sản của nam nữ sống chung như vợ chồng mà không đăng kí kết hôn được giải quyết thế nào khi chia tay?


Điều 16 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về việc giải quyết quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng kí kết hôn:
“1, Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn được giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên; trong trường hợp không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định của Bộ luật Dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
2. Việc giải quyết quan hệ tài sản phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con; công việc nội trợ và công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập”.

Theo đó để giải quyết tài sản của nam nữ sống chung như vợ chồng mà không đăng kí kết hôn được chia làm các trường hợp sau:
1. Trường hợp pháp luật thừa nhận quan hệ vợ chồng mà không đăng kí kết hôn
 Tại Khoản 1 Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 03 tháng 1 năm 2001 quy định:
“Trong trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 03/01/1987 (ngày Luật Hôn nhân và gia đinh 1986 có hiệu lực) mà chưa có đăng ký kết hôn thì được khuyến khích đăng ký kết hôn, nếu một bên hoặc cả hai bên có yêu cầu ly hôn, tòa án thụ lý vụ án và áp dụng quy định về ly hôn của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 để giải quyết vụ án ly hôn theo thủ tục chung. Cần chú ý là trong trường hợp sau khi quan hệ vợ chồng đã được xác lập họ mới thực hiện việc đăng ký kết hôn, thì quan hệ vợ chồng của họ vẫn được công nhận kể từ ngày xác lập (ngày họ bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng), chứ không phải là chỉ được công nhận kể từ ngày đăng ký kết hôn”.
Đối với trường hợp này, nam nữ sống chung trước ngày 03/01/1987 vẫn được pháp luật thừa nhận quan hệ vợ chồng hợp pháp ngay tại thời điểm họ chung sống với nhau dù không đăng kí kết hôn. Do vậy, khi một trong hai bên không muốn tiếp tục mối quan hệ này và yêu cầu ly hôn, chia tài sản thì Tòa án sẽ thụ lý và giải quyết theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.  
2. Trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 đến trước ngày 01/01/2001
 Tại Khoản 2 Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 03 tháng 1 năm 2001 quy định: 
“Đối với trường hợp nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 trở đi đến trước ngày 01/01/2001 (ngày Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 có hiệu lực) mà có đủ điều kiện kết hôn, nhưng chưa đăng ký kết hôn và đang chung sống với nhau như vợ chồng, thì theo quy định tại điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35 của Quốc hội họ có nghĩa vụ đăng ký kết hôn kể từ ngày 01/01/2001 cho đến ngày 01/01/2003”.
Trường hợp này được hiểu một cách cụ thể như sau:
- Nam, nữ sống chung với nhau bắt đầu từ ngày 3/1/1987 cho đến trước ngày 1/1/2001 và họ có thời gian 2 năm (từ 01/01/2001 đến 01/01/2003) để đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn. Kể từ sau ngày 01/01/2003 mà họ không đăng kí kết hôn thì pháp luật sẽ không công nhận mối quan hệ của họ là vợ chồng hợp pháp.
- Nếu sau ngày 01/01/2003 mới đăng kí kết hôn thì quan hệ vợ chồng sẽ được xác lập tính từ ngày họ đăng kí kết hôn. 
Như vậy, nam nữ sống chung như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 và đăng kí kết hôn trước ngày 01/01/2003 thì được pháp luật công nhận là vợ chồng hợp pháp kể từ thời điểm họ bắt đầu sống chung. Và khi một trong hai bên có yêu cầu ly hôn, chia tài sản thì Tòa án sẽ thụ lý và giải quyết theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. 
3. Trường hợp nam, nữ sống chung như vợ chồng từ ngày 01/01/2021 đến nay không đăng kí kết hôn thì sẽ không được pháp luật công nhận là vợ chồng hợp pháp
Trường hợp nam nữ sống chung với nhau như vợ chồng từ 03/01/1987 đến trước 01/01/2001 thì phải có nghĩa vụ đăng ký kết hôn. Sau 01/01/2001 mà vẫn không đăng ký kết hôn thì không được pháp luật công nhận là vợ chồng hợp pháp. 
Trong quá trình sống chung như vợ chồng, mối quan hệ giữa cả hai không đơn thuần chỉ là tình cảm mà còn cùng nhau xác lập các giao dịch về tài sản như: mua nhà, mua xe… hoặc cùng nhau kinh doanh. Thông thường, các loại tài sản này chỉ đứng tên một người nên khi cả hai quyết định chia tay thì việc phân chia tài sản được quy định như thế nào theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014? 
Theo quy định tại Điều 16 Luật này, hai bên có thể tự thỏa thuận, thống nhất với nhau cách thức phân chia tài sản trong thời kì chung sống. Sau đó nên lập văn bản thỏa thuận chia tài sản chung và làm thủ tục công chứng/chứng thực văn bản thỏa thuận nêu trên. Trong trường hợp cả hai không thỏa thuận được, việc phân chia tài sản sẽ được giải quyết theo quy định của Bộ luật dân sự và các quy định khác của pháp luật liên quan. Điều 219 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về việc phân chia tài sản thuộc sở hữu chung như sau:
- Trường hợp sở hữu chung có thể phân chia thì mỗi chủ sở hữu chung đều có quyền yêu cầu chia tài sản chung; nếu tình trạng sở hữu chung phải được duy trì trong một thời hạn theo thỏa thuận của các chủ sở hữu chung hoặc theo quy định của luật thì mỗi chủ sở hữu chung chỉ có quyền yêu cầu chia tài sản chung khi hết thời hạn đó; khi tài sản chung không thể chia được bằng hiện vật thì chủ sở hữu chung có yêu cầu chia có quyền bán phần quyền sở hữu của mình, trừ trường hợp các chủ sở hữu chung có thỏa thuận khác.
- Trường hợp có người yêu cầu một người trong số các chủ sở hữu chung thực hiện nghĩa vụ thanh toán và chủ sở hữu chung đó không có tài sản riêng hoặc tài sản riêng không đủ để thanh toán thì người yêu cầu có quyền yêu cầu chia tài sản chung và tham gia vào việc chia tài sản chung, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Nếu không thể chia phần quyền sở hữu bằng hiện vật hoặc việc chia này bị các chủ sở hữu chung còn lại phản đối thì người có quyền có quyền yêu cầu người có nghĩa vụ bán phần quyền sở hữu của mình để thực hiện nghĩa vụ thanh toán.
Trên đây là bài viết của Luật Hoàng Anh về vấn đề sống chung với vợ chồng mà không đăng kí kết hôn và cách giải quyết tài sản chung khi chia tay. Nếu còn bất cứ vướng mắc nào, quý khách xin vui lòng liên hệ với Luật Hoàng Anh để được tư vấn chi tiết.


Luật Hoàng Anh 

Tổng đài tư vấn pháp luật

0908 308 123
Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

0908 308 123

luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Khái niệm kết hôn theo quy định của luật hôn nhân gia đình 2014? Các điều kiện kết hôn?

Tư vấn Hôn nhân Gia đình 28/04/2021

Hôn nhân là cơ sở hình thành nên gia đình - tế bào của xã hội. Gia đình ra đời, tồn tại và phát triển trước hết là do Nhà nước thừa nhận hôn nhân của đôi nam nữ, đồng thời quy định quyền và nghĩa vụ pháp lý phát sinh giữa họ khi xác lập quan hệ vợ chồng.

Những trường hợp nào bị cấm kết hôn theo quy định của pháp luật?

Tư vấn Hôn nhân Gia đình 13/06/2021

Trường hợp bị cấm kết hôn được quy định tại Khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014