Thỏa thuận xác lập chế độ tài sản của vợ chồng được quy định như thế nào?

Kết hôn là sự kiện pháp lý làm hình thành quan hệ hôn nhân và gia đình. Trong giai đoạn hôn nhân, vợ chồng cùng nhau tạo lập, xây dựng, đóng góp cho khối tài sản chung. Trên thực tế, có rất nhiều cặp vợ chồng đã thỏa thuận về chế độ tài sản trước khi kết hôn nhằm xác định và tránh những tranh chấp phát sinh từ tài sản chung của hai người. Pháp luật hiện nay quy định như thế nào về việc thỏa thuận xác lập chế độ tài sản của vợ chồng? Theo dõi bài viết dưới đây của Luật Hoàng Anh để có câu trả lời chính xác nhất. 

Điều 47 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

"Trong trường hợp hai bên kết hôn lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận thì thỏa thuận này phải được lập trước khi kết hôn, bằng hình thức văn bản có công chứng hoặc chứng thực. Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận được xác lập kể từ ngày đăng ký kết hôn". 

Điều luật trên đã cụ thể hóa quy định về áp dụng chế độ tài sản của vợ, chồng tại Điều 28 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Tuy nhiên điều luật chỉ quy định nguyên tắc chung của việc thỏa thuận xác lập chế độ tài sản của vợ, chồng. Cụ thể là:

- Việc lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận thì thỏa thuận này phải được lập thành văn bản trước khi kết hôn. Điều đó có nghĩa là mọi trường hợp thỏa thuận sau khi kết hôn đều vô hiệu. 

- Văn bản thỏa thuận (hình thức thỏa thuận phải bằng văn bản) phải được công chứng hoặc chứng thực mới có giá trị pháp lý. 

- Thời điểm xác lập chế độ tài sản theo thỏa thuận kể từ ngày đăng ký kết hôn hợp pháp. 

Điều 15 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014 của Chính phủ quy định về việc xác định tài sản của vợ, chồng theo thỏa thuận:

"1. Trường hợp lựa chọn áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì vợ chồng có thể thỏa thuận về xác định tài sản theo một trong các nội dung sau đây:

a) Tài sản giữa vợ và chồng bao gồm tài sản chung và tài sản riêng của vợ, chồng;

b) Giữa vợ và chồng không có tài sản riêng của vợ, chồng mà tất cả tài sản do vợ, chồng có được trước khi kết hôn hoặc trong thời kỳ hôn nhân đều thuộc tài sản chung;

c) Giữa vợ và chồng không có tài sản chung mà tất cả tài sản do vợ, chồng có được trước khi kết hôn và trong thời kỳ hôn nhân đều thuộc sở hữu riêng của người có được tài sản đó;

d) Xác định theo thỏa thuận khác của vợ chồng.

2. Thỏa thuận về tài sản của vợ chồng phải phù hợp với quy định tại các Điều 29, 30, 31 và 32 của Luật Hôn nhân và gia đình. Nếu vi phạm, người có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố thỏa thuận vô hiệu theo quy định tại Điều 50 của Luật Hôn nhân và gia đình".

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận được áp dụng thì khi xác lập, thực hiện giao dịch vợ, chồng có nghĩa vụ cung cấp cho người thứ ba biết về những thông tin liên quan. Nếu vợ, chồng vi phạm nghĩa vụ này thì người thứ ba được xem là ngay tình và được bảo vệ quyền lợi theo quy định của Bộ luật Dân sự. 

 

Luật Hoàng Anh 

 

Tổng đài tư vấn pháp luật

0908 308 123
Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

0908 308 123

luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Đặc điểm quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng về tài sản trong chế độ tài sản theo luật định

Tư vấn Hôn nhân Gia đình 16/06/2021

Trong chế độ tài sản theo luật định, quyền và nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng được quy định như thế nào

Hậu quả pháp lý của thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng vô hiệu

Tư vấn Hôn nhân Gia đình 16/06/2021

Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu sẽ phát sinh những hậu quả pháp lý gì

Nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ, chồng được quy định như thế nào?

Tư vấn Hôn nhân Gia đình 16/06/2021

Nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ, chồng gồm bốn trường hợp được quy định tại Điều 45 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu trong trường hợp nào?

Tư vấn Hôn nhân Gia đình 16/06/2021

Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận bị vô hiệu trong những trường hợp nào