Thỏa thuận xác lập chế độ tài sản của vợ chồng là gì?

Chế độ tài sản của vợ chồng là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh về tài sản của vợ chồng, bao gồm các quy định về căn cứ xác lập tài sản, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng; nguyên tắc phân chia tài sản giữa vợ và chồng. Đối với việc xác lập tài sản của vợ chồng, pháp luật hôn nhân và gia đình quy định hai cách thức tương ứng với hai chế độ tài sản vợ chồng: chế độ tài sản vợ chồng theo pháp luật và theo thỏa thuận.

Mọi công dân Việt Nam đều có quyền thỏa thuận xác lập chế độ tài sản vợ chồng trước khi kết hôn. Khi đó, chế độ tài sản được áp dụng theo thỏa thuận. Nội dung trong thỏa thuận chế độ tài sản của vợ chồng không trái quy định của pháp luật. Về cơ bản, chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận được thực hiện theo quy định tại các điều 47, 48, 49, 50 và 59 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Tại Điều 47 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

Điều 47. Thỏa thuận xác lập chế độ tài sản của vợ chồng            

Trong trường hợp hai bên kết hôn lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận thì thỏa thuận này phải được lập trước khi kết hôn, bằng hình thức văn bản có công chứng hoặc chứng thực. Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận được xác lập kể từ ngày đăng ký kết hôn.”

Thỏa thuận xác lập chế độ tài sản của vợ chồng sau khi được xác lập sẽ là căn cứ pháp lý để điều chỉnh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản của họ trong suốt thời kỳ hôn nhân. Tuy nhiên, thỏa thuận phải đáp ứng các điều kiện về nội dung và hình thức thì mới có hiệu lực.

1. Nội dung cơ bản của thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng

Để đảm bảo tính hợp pháp của thỏa thuận về chế độ tài sản, Điều 48 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, được hướng dẫn bởi Điều 15 Nghị định 126/2014/NĐ-CP đưa ra quy định về những nội dung cơ bản của thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng. Lưu ý khi soạn thảo thành nội dung chi tiết thì các bên có thể đưa vào các nội dung khác có liên quan nhưng phải đảm bảo không trái pháp luật, không trái với đạo đức xã hội

Như vậy trong trường hợp lựa chọn áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì vợ chồng có thể thỏa thuận về xác định tài sản theo một trong các nội dung sau đây:

- Tài sản được xác định là tài sản chung, tài sản riêng của vợ, chồng, cụ thể:

a) Tài sản giữa vợ và chồng bao gồm tài sản chung và tài sản riêng của vợ, chồng;

b) Giữa vợ và chồng không có tài sản riêng của vợ, chồng mà tất cả tài sản do vợ, chồng có được trước khi kết hôn hoặc trong thời kỳ hôn nhân đều thuộc tài sản chung;

c) Giữa vợ và chồng không có tài sản chung mà tất cả tài sản do vợ, chồng có được trước khi kết hôn và trong thời kỳ hôn nhân đều thuộc sở hữu riêng của người có được tài sản đó;

d) Xác định theo thỏa thuận khác của vợ chồng.

- Quyền, nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng và giao dịch có liên quan; tài sản để bảo đảm nhu cầu thiết yếu của gia đình;

- Điều kiện, thủ tục và nguyên tắc phân chia tài sản khi chấm dứt chế độ tài sản;

- Nội dung khác có liên quan.

Thỏa thuận về tài sản của vợ chồng phải phù hợp với quy định tại các Điều 29, 30, 31 và 32 của Luật Hôn nhân và gia đình, tức là về nguyên tắc chung về chế độ tài sản của vợ chồng; quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng trong việc đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình;... Nếu vi phạm, người có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố thỏa thuận vô hiệu.

2. Sửa đổi, bổ sung nội dung của thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng

Khi thực hiện chế độ tài sản theo thỏa thuận mà phát sinh những vấn đề chưa được vợ chồng thỏa thuận hoặc thỏa thuận không rõ ràng thì áp dụng quy định tại các điều 29, 30, 31 và 32 của Luật này và quy định tương ứng của chế độ tài sản theo luật định. Quy định này tạo cơ chế linh hoạt, mềm dẻo cho vợ chồng khi thực hiện thỏa thuận và đảm bảo phù hợp với tình hình thực tế trong quan hệ hôn nhân và gia đình.

Theo Điều 49 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, được hướng dẫn bởi Điều 17 và Điều 18 Nghị định 126/2014/NĐ-CP thì:

- Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận được áp dụng thì trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận sửa đổi, bổ sung một phần hoặc toàn bộ nội dung của chế độ tài sản đó hoặc áp dụng chế độ tài sản theo luật định.

- Hình thức sửa đổi, bổ sung nội dung của thỏa thuận về chế độ tài sản theo thỏa thuận được áp dụng theo quy định tại Điều 47 của Luật này, tức là thỏa thuận sửa đổi, bổ sung nội dung của chế độ tài sản của vợ chồng phải được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật.

Về hậu quả của việc sửa đổi, bổ sung nội dung của chế độ tài sản của vợ chồng Điều 18 Nghị định 126/2014/NĐ-CP nêu rõ như sau:

- Thỏa thuận sửa đổi, bổ sung nội dung của chế độ tài sản của vợ chồng có hiệu lực từ ngày được công chứng hoặc chứng thực. Vợ, chồng có nghĩa vụ cung cấp cho người thứ ba biết về những thông tin liên quan theo quy định tại Điều 16 của Nghị định này.

- Quyền, nghĩa vụ về tài sản phát sinh trước thời điểm việc sửa đổi, bổ sung chế độ tài sản của vợ chồng có hiệu lực vẫn có giá trị pháp lý, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

Luật Hoàng Anh

 

Tổng đài tư vấn pháp luật

0908 308 123
Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

0908 308 123

luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan