Vợ chồng đại diện cho nhau trong việc thực hiện các giao dịch liên quan đến tài sản chung được quy định như thế nào?

Trong quan hệ hôn nhân, vợ chồng đại diện cho nhau thực hiện các giao dịch liên quan đến tài sản chung là hiện tượng phổ biến. Vậy pháp luật Hôn nhân và gia đình quy định như thế nào về các trường hợp này. Luật Hoàng Anh xin trình bày vấn đề trên trong bài viết dưới đây: 


I. Giao dịch liên quan đến tài sản chung bắt buộc phải có sự thỏa thuận của vợ chồng


Khi quan hệ hôn nhân được xác lập thì về nguyên tắc, chủ sở hữu các tài sản trong quan hệ hôn nhân là cả hai vợ chồng, ngoại trừ những tài sản thuộc sở hữu riêng hoặc vợ chồng lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận. Vợ, chồng bình đẳng trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung. 

Khoản 20 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định nhu cầu thiết yếu được hiểu là:
“Nhu cầu sinh hoạt thông thường về ăn, mặc, ở, học tập, khám bệnh, chữa bệnh và nhu cầu sinh hoạt thông thường khác không thể thiếu cho cuộc sống của mỗi người, mỗi gia đình”. 
Những giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung để phục vụ cho nhu cầu thiết yếu hàng ngày của gia đình do một bên vợ hoặc chồng xác lập, thực hiện thì được xem là có sự thỏa thuận của bên kia một cách mặc định. Bởi bản chất các giao dịch này có giá trị không lớn, được xác lập mỗi ngày và mục đích xác lập để duy trì sự tồn tại của gia đình, phù hợp với tính chất của quan hệ hôn nhân nên việc đại diện không được đặt ra trong trường hợp này. 
Đối với những giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung có tính chất quan trọng, pháp luật bắt buộc phải có sự thể hiện ý chí của hai vợ chồng trong việc định đoạt.
 Khoản 2, Điều 35 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định các trường hợp định đoạt tài sản chung phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng:
 “2. Việc định đoạt tài sản chung phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng trong những trường hợp sau đây:
a) Bất động sản;
b) Động sản mà theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu;
c) Tài sản đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình”. 

Ví dụ: Chiếc xe máy là tài sản chung của hai vợ chồng do người vợ đứng tên trên giấy đăng ký quyền sở hữu. Hàng ngày người chồng dùng chiếc xe máy này để đi giao hàng, tạo ra thu nhập chính cho gia đình. Nếu người vợ muốn bán chiếc xe thì phải có sự đồng ý bằng văn bản của người chồng; nếu không giao dịch bán xe sẽ trở nên vô hiệu. 
Trường hợp một bên vợ hoặc chồng tự ý định đoạt tài sản mà không có sự thỏa thuận ý chí của bên kia thì bị coi là vi phạm quyền định đoạt tài sản của bên kia. Người không được thể hiện ý chí có quyền yêu cầu Tòa án xác định, tuyên bố hợp đồng mà vợ, chồng ký kết với người khác có liên quan đến tài sản chung là vô hiệu. Hậu quả pháp lý của giao dịch vô hiệu là các bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. 
Trường hợp vợ hoặc chồng thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà có văn bản ủy quyền của chồng hoặc vợ mình thì giao dịch dân sự đó là hợp pháp. 


II. Trường hợp vợ chồng đưa tài sản chung vào kinh doanh


Khoản 2, Điều 25 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:
“Trong trường hợp vợ, chồng đưa tài sản chung vào kinh doanh thì áp dụng quy định tại Điều 36 của Luật này”.
Điều 36, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:
“Trong trường hợp vợ chồng có thỏa thuận về việc một bên đưa tài sản chung vào kinh doanh thì người này có quyền tự mình thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản chung đó. Thỏa thuận này phải lập thành văn bản”. 
Theo quy định trên, việc sử dụng tài sản chung cho một bên kinh doanh phải có sự thỏa thuận của vợ chồng. Vợ chồng có quyền thỏa thuận với nhau về việc một bên đưa một phần hoặc toàn bộ khối tài sản chung vào kinh doanh. Trường hợp cả hai vợ chồng đều thống nhất với nhau về việc một người đưa tài sản chung vào kinh doanh thì thỏa thuận này phải được lập thành văn bản. Khi đó người trực tiếp kinh doanh có quyền tự mình xác lập, thực hiện, chấm dứt các giao dịch liên quan đến tài sản chung đó trong quá trình kinh doanh. Lợi nhuận có được từ hoạt động kinh doanh đó sẽ thuộc tài sản chung và vợ chồng phải gánh chịu các nghĩa vụ trong suốt quá trình kinh doanh bằng tài sản chung. 


III. Đại diện giữa vợ và chồng trong trường hợp giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với tài sản chung nhưng chỉ ghi tên vợ hoặc chồng. 


Điều 34 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định:
1. Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng thì giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng phải ghi tên cả hai vợ chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.
2. Trong trường hợp giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng tài sản chỉ ghi tên một bên vợ hoặc chồng thì giao dịch liên quan đến tài sản này được thực hiện theo quy định tại Điều 26 của Luật này; nếu có tranh chấp về tài sản đó thì được giải quyết theo quy định tại khoản 3 Điều 33 của Luật này”.

Khoản 1 Điều 12 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP hướng dẫn: 
“1. Tài sản chung của vợ chồng phải đăng ký theo quy định tại Điều 34 của Luật Hôn nhân và gia đình bao gồm quyền sử dụng đất, những tài sản khác mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sử dụng, quyền sở hữu”. 
Đăng ký quyền sở hữu tài sản chung của vợ chồng là biện pháp bảo vệ quyền của vợ chồng đối với tài sản. Giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản là căn cứ pháp lý để vợ chồng thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình đối với tài sản đó. Tuy nhiên trên thực tế trường hợp tài sản chung chỉ ghi tên một bên là điều vô cùng phổ biến, điển hình là các trường hợp đăng ký quyền sử dụng đất ở. Điều này dẫn đến thực trạng là khi có tranh chấp xảy ra, việc xác định tài sản đứng tên một bên vợ hoặc chồng là tài sản riêng hay tài sản chung còn gặp nhiều khó khăn. 
Điều 26 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về đại diện giữa vợ và chồng trong trường hợp giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với tài sản chung nhưng chỉ ghi tên vợ hoặc chồng:
“1. Việc đại diện giữa vợ và chồng trong việc xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch liên quan đến tài sản chung có giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng tài sản chỉ ghi tên vợ hoặc chồng được thực hiện theo quy định tại Điều 24 và Điều 25 của Luật này.
2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng có tên trên giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng tài sản tự mình xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch với người thứ ba trái với quy định về đại diện giữa vợ và chồng của Luật này thì giao dịch đó vô hiệu, trừ trường hợp theo quy định của pháp luật mà người thứ ba ngay tình được bảo vệ quyền lợi”. 

Theo quy định trên, vợ hoặc chồng đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản chung vợ chồng sẽ không đương nhiên là người đại diện cho người còn lại để xác lập, thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản chung vợ chồng. Việc định đoạt những tài sản này phải tuân thủ quy định về đại diện tại Điều 24 và Điều 25 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về căn cứ xác lập đại diện giữa vợ và chồng trong quan hệ kinh doanh. 
Trường hợp vợ hoặc chồng có tên trên các giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền tài sản tự mình xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch trái với quy định về đại diện giữa vợ và chồng thì giao dịch đó có thể vô hiệu. Giao dịch dân sự vô hiệu sẽ không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự của các bên tại thời điểm giao dịch được xác lập. Đồng thời theo quy định tại Điều 131 Bộ luật Dân sự năm 2015 về hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên phải khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Trường hợp không hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá bằng tiền để hoàn trả. 


Luật Hoàng Anh 

 

Tổng đài tư vấn pháp luật

0908 308 123
Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

0908 308 123

luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Đặc điểm chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận

Tư vấn Hôn nhân Gia đình 16/06/2021

Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận được xác lập dựa trên sự bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau

Đại diện theo pháp luật giữa vợ và chồng là gì

Tư vấn Hôn nhân Gia đình 16/06/2021

Quan hệ đại diện giữa vợ và chồng được pháp luật quy định như thế nào

Đại diện theo ủy quyền giữa vợ và chồng là gì

Tư vấn Hôn nhân Gia đình 16/06/2021

Việc đại diện theo ủy quyền giữa vợ và chồng được pháp luật quy định như thế nào

Khái niệm đại diện giữa vợ và chồng

Tư vấn Hôn nhân Gia đình 16/06/2021

Quan hệ đại diện giữa vợ và chồng được hiểu như thế nào